Sự Hiệu Quả Của Survodutide Trong Việc Điều Trị Bệnh Viêm Gan Nhiễm Mỡ Liên Quan Đến Rối Loạn Chuyển Hóa
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 9 năm 2024
|
Viêm da do bệnh vẩy nến được gây ra bởi interleukin 17 và tế bào T-helper 17. Mặc dù có một số phương pháp điều trị hiệu quả đã được thử nghiệm, nhưng không có nhiều lựa chọn điều trị dạng uống. Zasocitinib là một tác nhân ức chế TYK2 có thể dùng qua đường uống. Thuốc ức chế TYK2 bằng cách can thiệp vào quá trình chuyển hóa protein JAK. Một nghiên cứu do công ty dược Nimbus Discovery và Takeda tài trợ đã được tiến hành để tìm hiểu hiệu quả của zasocitinib trong việc kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 259 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh vẩy nến mảng bám từ mức độ trung bình đến nặng, được đặc trưng bởi điểm đánh giá toàn diện của bác sĩ (Physician Global Assessment - PGA) là 3 hoặc 4 và ảnh hưởng đến hơn 10% diện tích bề mặt cơ thể. Nhóm này có điểm số trung bình của hỉ số diện tích và mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến (Psoriasis Area and Severity Index - PASI) là 22 trên 72 và điểm số Chỉ số chất lượng cuộc sống về da liễu (Dermatologic Life Quality Index - DLQI) ban đầu là 12, với 30 cho thấy mức độ suy nhược nhất của bệnh. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc một trong bốn liều zasocitinib (2, 5, 15 và 30 mg) uống một lần mỗi ngày. Sau 12 tuần, zasocitinib cho thấy hiệu quả đáng kể trong việc giải quyết bệnh vẩy nến mảng bám, với gần 70% người tham gia trong nhóm 15 mg và 30 mg đạt được mức giảm 75% điểm PASI và một phần ba số người trong nhóm liều cao nhất đạt được điểm PASI là 0. Ngoài ra, đánh giá với thang điểm PGA cho thấy rằng zasocitinib làm giảm hiệu quả mức độ nghiêm trọng của bệnh xuống mức 0 hoặc 1. Các nghiên cứu trước đây với dược phẩm ức chế TYK2 như deucravacitinib báo cáo tần suất cao các tác dụng phụ xuất hiện trong quá trình điều trị. Ngược lại, nghiên cứu với zasocitinib phát hiện tỷ lệ mắc triệu chứng phụ thấp hơn. Các tác giả cho là do tính chọn lọc cao hơn của zasocitinib đối với vùng JH2 của protein TYK2, làm giảm các tác dụng ngoài mục tiêu.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 259 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh vẩy nến mảng bám từ mức độ trung bình đến nặng, được đặc trưng bởi điểm đánh giá toàn diện của bác sĩ (Physician Global Assessment - PGA) là 3 hoặc 4 và ảnh hưởng đến hơn 10% diện tích bề mặt cơ thể. Nhóm này có điểm số trung bình của hỉ số diện tích và mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến (Psoriasis Area and Severity Index - PASI) là 22 trên 72 và điểm số Chỉ số chất lượng cuộc sống về da liễu (Dermatologic Life Quality Index - DLQI) ban đầu là 12, với 30 cho thấy mức độ suy nhược nhất của bệnh. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc một trong bốn liều zasocitinib (2, 5, 15 và 30 mg) uống một lần mỗi ngày. Sau 12 tuần, zasocitinib cho thấy hiệu quả đáng kể trong việc giải quyết bệnh vẩy nến mảng bám, với gần 70% người tham gia trong nhóm 15 mg và 30 mg đạt được mức giảm 75% điểm PASI và một phần ba số người trong nhóm liều cao nhất đạt được điểm PASI là 0. Ngoài ra, đánh giá với thang điểm PGA cho thấy rằng zasocitinib làm giảm hiệu quả mức độ nghiêm trọng của bệnh xuống mức 0 hoặc 1. Các nghiên cứu trước đây với dược phẩm ức chế TYK2 như deucravacitinib báo cáo tần suất cao các tác dụng phụ xuất hiện trong quá trình điều trị. Ngược lại, nghiên cứu với zasocitinib phát hiện tỷ lệ mắc triệu chứng phụ thấp hơn. Các tác giả cho là do tính chọn lọc cao hơn của zasocitinib đối với vùng JH2 của protein TYK2, làm giảm các tác dụng ngoài mục tiêu.