​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Sự Hiệu Quả Của Survodutide Trong Việc Điều Trị Bệnh Viêm Gan Nhiễm Mỡ Liên Quan Đến Rối Loạn Chuyển Hóa

Picture
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 11 tháng 9 năm 2024
Picture

Do béo phì là yếu tố nguy cơ gây viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH), các chất chủ vận thụ thể GLP-1 có thể là liệu pháp cho tình trạng này do tác dụng kiểm soát glucose và ức chế cảm giác thèm ăn. Tuy nhiên, vì tế bào gan không có thụ thể GLP-1 nên việc nhắm mục tiêu vào các thụ thể khác, chẳng hạn như thụ thể glucagon, có thể tăng hiệu quả điều trị bằng cách thúc đẩy quá trình phân giải mỡ và huy động mỡ gan. Survodutide, một chất chủ vận kép với khả năng tương tác với thụ thể GLP-1 và glucagon, hiện đang được nghiên cứu trong một nghiên cứu do công ty dược phẩm Boehringer Ingelheim tài trợ về tiềm năng kiểm soát MASH.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 293 người tham gia mắc MASH được xác nhận bằng sinh thiết và xơ gan ở các giai đoạn từ F1 đến F3. Nhóm này có điểm NAFLD trung bình là 5,2, trong đó 8 biểu thị bệnh nghiêm trọng nhất. Hàm lượng mỡ gan ban đầu được đo ở mức 19,57% bằng MRI-PDFF và phân tích sinh hóa cho thấy mức alanine aminotransferase (ALT) và aspartate aminotransferase (AST) trung bình lần lượt là 57,8 và 47,3 U/lít. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để tiêm dưới da hàng tuần bằng giả dược hoặc một trong ba liều survodutide: 2,4 mg, 4,8 mg hoặc 6,0 mg. Sau 48 tuần điều trị, survodutide được phát hiện là vượt trội hơn giả dược trong việc cải thiện MASH và kiểm soát xơ hóa, được xác định bằng mức giảm tối thiểu 2 điểm trên thang điểm hoạt động NAFLD và không làm tăng điểm xơ hóa. Ngoài ra, survodutide làm giảm đáng kể hàm lượng mỡ gan, mức ALT và AST. Nghiên cứu báo cáo không có sự khác biệt đáng kể ở tỷ lệ các tác dụng phụ giữa nhóm survodutide và nhóm giả dược. Các tác giả lưu ý rằng các nghiên cứu trước đây về các chất chủ vận kép khác của thụ thể glucagon và GLP-1 (cotadutide, SAR425899 và NNC9204-1177) đã báo cáo các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn dẫn đến ngừng điều trị. Họ đưa ra giả thuyết rằng tỷ lệ tác dụng phụ thấp hơn liên quan đến survodutide có thể là do tỷ lệ tác dụng của thuốc lên GLP-1 so với thụ thể glucagon; survodutide nhắm vào 8 thụ thể GLP-1 cho mỗi 1 thụ thể glucagon, trong khi các tác nhân khác có tỷ lệ là 5:1 và 3:1, thường ưu tiên thụ thể glucagon hơn.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues