So Sánh Sự Hiệu Quả Của Risankizumab và Ustekinumab Trong Việc Điều Trị Bệnh Crohn
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 8 năm 2024
|
Do độc tính và độ hiệu quả chỉ ở mức trung bình của các liệu pháp nhắm vào TNF, các phương pháp điều trị thay thế như risankizumab và ustekinumab thường được sử dụng cho bệnh Crohn. Cả hai kháng thể đơn dòng đều nhắm mục tiêu vào interleukin 23 (IL-23), mặc dù theo những cách khác nhau: risankizumab nhắm mục tiêu cụ thể vào tiểu đơn vị p19 của IL-23, trong khi ustekinumab nhắm vào tiểu đơn vị p40, được chia sẻ bởi cả interleukin 12 (IL-12) và IL-23, do đó làm giảm nồng độ của cả hai cytokine. Để so sánh hiệu quả của risankizumab và ustekinumab trong việc kiểm soát bệnh Crohn, một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tài trợ bởi AbbVie.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 520 bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh Crohn từ trung bình đến nặng trong ít nhất 3 tháng trước khi tham gia nghiên cứu. Mức độ nghiêm trọng của bệnh ban đầu được đánh giá bằng chỉ số CDAI, cho điểm trung bình là 306, với 600 là mức nghiêm trọng nhất. Đánh giá trực quan đại tràng với thang điểm SES-CD, cho điểm trung bình là 12, trong đó 56 là nghiêm trọng nhất. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận risankizumab hoặc ustekinumab. Nhóm risankizumab được tiêm tĩnh mạch liều khởi đầu 600 mg vào tuần 0, 4 và 8, sau đó là liều duy trì 350 mg tiêm dưới da sau 8 tuần bắt đầu từ tuần 12. Nhóm ustekinumab được tiêm liều khởi đầu dựa trên cân nặng của bệnh nhân (260 mg cho những người ≤55 kg, 390 mg cho những người >55 đến 85 kg và 520 mg cho những người >85 kg), sau đó là liều duy trì 90 mg tiêm dưới da cứ sau 8 tuần. Sau 48 tuần điều trị, nhiều bệnh nhân trong nhóm risankizumab có mức độ bệnh nhẹ hơn đáng kể so với những bệnh nhân trong nhóm ustekinumab, được xác định bằng điểm CDAI dưới 150 và SES-CD là 4 hoặc thấp hơn. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng tính ưu việt của risankizumab so với ustekinumab cũng được quan sát thấy trong một nghiên cứu khác về bệnh vẩy nến mảng bám. Sự khác biệt về hiệu quả này có thể là do risankizumab có ái lực cao hơn với IL-23 hoặc do IL-12, được trung hòa bởi ustekinumab, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa vi môi trường ruột.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 520 bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh Crohn từ trung bình đến nặng trong ít nhất 3 tháng trước khi tham gia nghiên cứu. Mức độ nghiêm trọng của bệnh ban đầu được đánh giá bằng chỉ số CDAI, cho điểm trung bình là 306, với 600 là mức nghiêm trọng nhất. Đánh giá trực quan đại tràng với thang điểm SES-CD, cho điểm trung bình là 12, trong đó 56 là nghiêm trọng nhất. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận risankizumab hoặc ustekinumab. Nhóm risankizumab được tiêm tĩnh mạch liều khởi đầu 600 mg vào tuần 0, 4 và 8, sau đó là liều duy trì 350 mg tiêm dưới da sau 8 tuần bắt đầu từ tuần 12. Nhóm ustekinumab được tiêm liều khởi đầu dựa trên cân nặng của bệnh nhân (260 mg cho những người ≤55 kg, 390 mg cho những người >55 đến 85 kg và 520 mg cho những người >85 kg), sau đó là liều duy trì 90 mg tiêm dưới da cứ sau 8 tuần. Sau 48 tuần điều trị, nhiều bệnh nhân trong nhóm risankizumab có mức độ bệnh nhẹ hơn đáng kể so với những bệnh nhân trong nhóm ustekinumab, được xác định bằng điểm CDAI dưới 150 và SES-CD là 4 hoặc thấp hơn. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng tính ưu việt của risankizumab so với ustekinumab cũng được quan sát thấy trong một nghiên cứu khác về bệnh vẩy nến mảng bám. Sự khác biệt về hiệu quả này có thể là do risankizumab có ái lực cao hơn với IL-23 hoặc do IL-12, được trung hòa bởi ustekinumab, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa vi môi trường ruột.