​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Tác Dụng của Kháng Thể Chống Interleukin-5 Benralizumab lên Viêm Thực Quản do Bạch Cầu Ưa Acid

Picture
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 23 tháng 8 năm 2024
Picture

Viêm thực quản do bạch cầu ưa acid là một tình trạng viêm do tế bào T-helper loại 2 gây ra,  và bệnh có thể được điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton, glucocorticoid và kháng thể đơn dòng nhắm vào các tế bào và các đường truyền tín hiệu liên quan. Interleukin 5 đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt bạch cầu ưa acid, vì thế thụ thể của IL-5 là một mục tiêu điều trị. Benralizumab, nhắm vào các thụ thể IL-5, có thể giúp làm giảm kích thích bạch cầu ưa acid. Để khám phá tiềm năng này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của benralizumab trong việc kiểm soát viêm thực quản do bạch cầu ưa acid.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 211 người tham gia được chẩn đoán mắc viêm thực quản do bạch cầu ưa acid. Kiểm tra nội soi cho thấy số lượng bạch cầu ưa acid trong biểu mô thực quản đỉnh trung bình ban đầu là 83 tế bào trên mỗi vi trường, trong khi xét nghiệm máu cho thấy nồng độ bạch cầu ưa acid trung bình là 310 tế bào trên mỗi microlit. Trong nhóm, 45,7% báo cáo sử dụng đồng thời thuốc ức chế bơm proton và 12,4% đang sử dụng glucocorticoid. Điểm số ban đầu của bảng câu hỏi về triệu chứng khó nuốt (Dysphagia Symptom Questionnaire - DSQ) là khoảng 35 trên thang điểm 48, với điểm số cao hơn cho thấy các triệu chứng nghiêm trọng hơn. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc 30 mg benralizumab tiêm dưới da mỗi 4 tuần. Sau 24 tuần, benralizumab có hiệu quả hơn trong việc giảm số lượng bạch cầu ưa acid, với 87,4% người tham gia đạt được số lượng bạch cầu ưa acid trong biểu mô thực quản đỉnh dưới 6 tế bào trên mỗi ô, so với chỉ 6,5% ở nhóm giả dược. Mặc dù có sự cải thiện về mặt mô học này, không có sự khác biệt đáng kể về các triệu chứng khó nuốt giữa hai nhóm dùng benralizumab và giả dược, khi đo bằng bảng câu hỏi DSQ. Các tác giả lưu ý rằng các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng một số kháng thể nhắm vào cytokine, như entelimab kháng Siglec-8 và mepolizumab hoặc reslizumab kháng IL-5, có thể không làm giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Tuy nhiên, dupilumab, nhắm vào Interleukin-4 và Interleukin-13 cần thiết cho tế bào Th2, đã được chứng minh là làm giảm mức độ nghiêm trọng của triệu chứng. Các tác giả đề xuất nên sử dụng các chỉ số sinh học khác ngoài số lượng bạch cầu ưa acid để đánh giá mức độ nghiêm trọng của viêm thực quản do bạch cầu ưa acid.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues