Quản Lý Tình Trạng Viêm Loại 2 ở Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính với Dupilumab
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 12 tháng 8 năm 2024
|
Phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bao gồm glucocorticoid, thuốc đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài (LAMA) và thuốc chủ vận beta tác dụng kéo dài (LABA). Trong một số trường hợp, bệnh vẩn trở nên nặng hơn khi đã dùng liều tối đa của liệu pháp tiêu chuẩn. Dupilumab là một kháng thể đơn dòng có thể làm giảm tình trạng viêm loại 2 bằng cách can thiệp tính hiệu của interleukin-4 và interleukin-13. Vì COPD bị gây ra bởi viêm loại 2, công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá sự hiệu quả của dupilumab trong việc kiểm soát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
935 người trong độ tuổi từ 40 đến 85 đã tham gia vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 này. Những bệnh nhân này đã được chẩn đoán mắc COPD trong vòng 12 tháng qua và đã được điều trị bằng phối hợp LAMA-LABA hoặc liệu pháp bao gồm glucocorticoid, LAMA và LABA trong ít nhất 3 tháng. Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu này đã có ít nhất hai cơn mức độ vừa hoặc một cơn mức độ nặng trong năm trước dẫn đến điều trị bằng glucocorticoid toàn thân. Thể tích thở ra gắng sức trung bình trong 1 giây (FEV1) của những người tham gia là 1,36 lít và việc sử dụng thuốc giãn phế quản đã cải thiện giá trị trung bình này lên 1,45 lít. Đánh giá bằng thang St. George’s Respiratory Questionnaire (SGRQ) 100 điểm cho ra giá trị trung bình của nhóm là 51,5. Bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị dưới da bằng giả dược hoặc 300 mg dupilumab sau mỗi 2 tuần. Sau 52 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu quan sát thấy rằng nguy cơ lên cơn giảm 34% ở những người được điều trị bằng dupilumab. Ngoài ra, dupilumab làm tăng chức năng phổi bằng chứng là sự gia tăng FEV1. Tuy nhiên, việc điều trị không dẫn đến sự khác biệt đáng kể về điểm SGRQ.
935 người trong độ tuổi từ 40 đến 85 đã tham gia vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 này. Những bệnh nhân này đã được chẩn đoán mắc COPD trong vòng 12 tháng qua và đã được điều trị bằng phối hợp LAMA-LABA hoặc liệu pháp bao gồm glucocorticoid, LAMA và LABA trong ít nhất 3 tháng. Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu này đã có ít nhất hai cơn mức độ vừa hoặc một cơn mức độ nặng trong năm trước dẫn đến điều trị bằng glucocorticoid toàn thân. Thể tích thở ra gắng sức trung bình trong 1 giây (FEV1) của những người tham gia là 1,36 lít và việc sử dụng thuốc giãn phế quản đã cải thiện giá trị trung bình này lên 1,45 lít. Đánh giá bằng thang St. George’s Respiratory Questionnaire (SGRQ) 100 điểm cho ra giá trị trung bình của nhóm là 51,5. Bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị dưới da bằng giả dược hoặc 300 mg dupilumab sau mỗi 2 tuần. Sau 52 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu quan sát thấy rằng nguy cơ lên cơn giảm 34% ở những người được điều trị bằng dupilumab. Ngoài ra, dupilumab làm tăng chức năng phổi bằng chứng là sự gia tăng FEV1. Tuy nhiên, việc điều trị không dẫn đến sự khác biệt đáng kể về điểm SGRQ.