Đánh Giá Hiệu Quả của Semaglutide trong Việc Ngăn Ngừa Bệnh Thận Mãn Tính ở Bệnh Nhân Tiểu Đường Loại 2
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 7 tháng 8 năm 2024
|
Nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính cao hơn ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện rằng những việc điều trị với thuốc ức chế renin-angiotensin và thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) giảm rủi ro bệnh thận mãn tính. Với sự thịnh hành của các hợp chất GLP-1 như semaglutide, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của nó đối với nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2.
Nghiên cứu lâm sàng bao gồm tổng cộng 3533 bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 2 và có nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính cao. Mức hemoglobin glycate hóa trung bình của nhóm bệnh nhân là 7,8% và tốc độ lọc cầu thận ước tính trung bình của những người tham gia là 47,0 mL/phút. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc semaglutide, được dùng theo đường tiêm dưới da với liều khởi đầu là 0,25 mg mỗi tuần trong 4 tuần, tăng lên 0,5 mg mỗi tuần trong 4 tuần nữa, sau đó là liều duy trì là 1,0 mg mỗi tuần trong suốt thời gian còn lại của quá trình điều trị. Sau thời gian theo dõi trung bình là 3,4 năm, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người sử dụng semaglutide có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch thấp hơn và ít bị giảm tốc độ lọc cầu thận ước tính hơn. Ngoài ra, nhóm được điều trị với semaglutide có mức giảm lọc cầu thận hàng năm ít hơn với sự khác biệt giữa hai nhóm là 1,16 ml mỗi phút trên 1,73 mét vuông.
Nghiên cứu lâm sàng bao gồm tổng cộng 3533 bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 2 và có nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính cao. Mức hemoglobin glycate hóa trung bình của nhóm bệnh nhân là 7,8% và tốc độ lọc cầu thận ước tính trung bình của những người tham gia là 47,0 mL/phút. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc semaglutide, được dùng theo đường tiêm dưới da với liều khởi đầu là 0,25 mg mỗi tuần trong 4 tuần, tăng lên 0,5 mg mỗi tuần trong 4 tuần nữa, sau đó là liều duy trì là 1,0 mg mỗi tuần trong suốt thời gian còn lại của quá trình điều trị. Sau thời gian theo dõi trung bình là 3,4 năm, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người sử dụng semaglutide có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch thấp hơn và ít bị giảm tốc độ lọc cầu thận ước tính hơn. Ngoài ra, nhóm được điều trị với semaglutide có mức giảm lọc cầu thận hàng năm ít hơn với sự khác biệt giữa hai nhóm là 1,16 ml mỗi phút trên 1,73 mét vuông.