So Sánh Sự Hiệu Quả Giữa Liệu Trình Tiêm Thuốc Cabotegravir & Rilpivirine Tác Dụng Kéo Dài Với Liệu Trình Kháng Vi-rút Dạng Uống Để Kiểm Soát HIV
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 12 tháng 7 năm 2024
|
Theo khuyến nghị hiện nay của Tổ chức Y tế Thế giới, liệu pháp kháng vi-rút đường uống hàng ngày, bao gồm tenofovir disoproxil fumarate, lamivudine và dolutegravir, nên được sử dụng để kiểm soát nhiễm HIV. Phương pháp này đã có hiệu quả trong việc kiểm soát HIV ở các quốc gia đang phát triển, mặc dù nó đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt lịch dùng thuốc. Liệu pháp điều trị dài hạn với Cabotegravir và Rilpivirine đã cho thấy hiệu quả cao trong các thử nghiệm được tiến hành ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Một bài báo gần đây đăng trên tạp chí y học The Lancet đã so sánh hiệu quả của liệu pháp Cabotegravir và Rilpivirine tác dụng kéo dài với liệu trình thuốc uống hiện tại trong việc kiểm soát HIV.
Nghiên cứu được thực hiện ở Kenya, Uganda và Nam Phi, và bao gồm 512 người tham gia đã duy trì lượng virus HIV dưới 50 bản mỗi mL trong ít nhất 4 tháng trước khi nghiên cứu bắt đầu. Những người tham gia này đã sử dụng các liệu pháp kháng vi-rút như tenofovir disoproxil fumarate, lamivudine, emtricitabine, nevirapine, efavirenz hoặc dolutegraver trong vòng 6 tháng qua. Nghiên cứu đã loại trừ những người có 2 lần xét nghiệm tải lượng virus liên tiếp trở trên 200 bản mỗi mL và những người đã hoặc đang nhiễm viêm gan B. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận liệu pháp uống tiêu chuẩn hoặc liệu pháp tiêm tác dụng kéo dài. Những người trong nhóm điều trị bằng đường uống tuân theo phác đồ được WHO khuyến nghị: bao gồm 300 mg tenofovir disoproxil fumarate, 300 mg lamivudine và 50 mg dolutegravir. Nhóm điều trị tiêm tác dụng kéo dài được ban đầu dùng 30 mg Cabotegrafir và 25 mg Rilpivirine dạng uống mỗi ngày trong 4 tuần để đánh giá khả năng dung nạp, sau đó các cá nhân được tiêm bắp với 600 mg Cabotegravir và 900 mg Rilpivirine mỗi 8 tuần. Sau 48 tuần, cả hai nhóm đều có tỷ lệ người tham gia có lượng virus dưới 50 bản sao mỗi mL tương tự nhau, khoảng 96%. Ngoài hiệu quả cao tương đương, nhiều người có thể chuộng liệu trình tiêm tác dụng kéo dài hơn vì nó làm giảm nhu cầu mang theo thuốc, nhớ liều hàng ngày và giảm bớt lo lắng về việc bị phát hiện dương tính với HIV từ những viên thuốc họ đang dùng.
Nghiên cứu được thực hiện ở Kenya, Uganda và Nam Phi, và bao gồm 512 người tham gia đã duy trì lượng virus HIV dưới 50 bản mỗi mL trong ít nhất 4 tháng trước khi nghiên cứu bắt đầu. Những người tham gia này đã sử dụng các liệu pháp kháng vi-rút như tenofovir disoproxil fumarate, lamivudine, emtricitabine, nevirapine, efavirenz hoặc dolutegraver trong vòng 6 tháng qua. Nghiên cứu đã loại trừ những người có 2 lần xét nghiệm tải lượng virus liên tiếp trở trên 200 bản mỗi mL và những người đã hoặc đang nhiễm viêm gan B. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận liệu pháp uống tiêu chuẩn hoặc liệu pháp tiêm tác dụng kéo dài. Những người trong nhóm điều trị bằng đường uống tuân theo phác đồ được WHO khuyến nghị: bao gồm 300 mg tenofovir disoproxil fumarate, 300 mg lamivudine và 50 mg dolutegravir. Nhóm điều trị tiêm tác dụng kéo dài được ban đầu dùng 30 mg Cabotegrafir và 25 mg Rilpivirine dạng uống mỗi ngày trong 4 tuần để đánh giá khả năng dung nạp, sau đó các cá nhân được tiêm bắp với 600 mg Cabotegravir và 900 mg Rilpivirine mỗi 8 tuần. Sau 48 tuần, cả hai nhóm đều có tỷ lệ người tham gia có lượng virus dưới 50 bản sao mỗi mL tương tự nhau, khoảng 96%. Ngoài hiệu quả cao tương đương, nhiều người có thể chuộng liệu trình tiêm tác dụng kéo dài hơn vì nó làm giảm nhu cầu mang theo thuốc, nhớ liều hàng ngày và giảm bớt lo lắng về việc bị phát hiện dương tính với HIV từ những viên thuốc họ đang dùng.