Bổ Trợ Miễn Dịch Với Nivolumab & Ipilimumab Cho Thấy Hứa Hẹn Về Khả Năng Điều Trị Ung Thư Ruột Già Thiếu Cơ Cấu Sửa Chữa Đột Biến
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2024
|
Khiếm khuyết trong cơ cấu sửa chữa đột biến trong tế bào có ở 15% trường hợp ung thư ruột già không di căn. Hiện nay, những bệnh nhân này được điều trị với liệu trình hóa trị căn bản fluorouracil cộng với oxaliplatin sau phẫu thuật. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây cho thấy phương pháp này có hiệu quả hạn chế. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của việc sử dụng liệu pháp miễn dịch nivolumab cộng với ipilimumab ở những bệnh nhân ung thư ruột già thiếu cơ chế sửa chữa đột biến.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 115 bệnh nhân, với độ tuổi trung bình là 60, được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến đại tràng có thể cắt bỏ. Sinh thiết khối u được nhuộm hóa mô miễn dịch để đánh giá khả năng của các protein sửa chữa đột biến không khớp như MLH1, PMS2, MSH2 và MSH6. Những người tham gia đã nhận được chế độ trị liệu miễn dịch với nivolumab và ipilimumab sáu tuần trước khi phẫu thuật cắt bỏ. Nivolumab được tiêm tĩnh mạch với hai liều: liều đầu tiên 3 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể vào ngày 1 và liều thứ hai vào ngày 15. Ipilimumab được tiêm một liều duy nhất 1 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể vào ngày 1. Sau phẫu thuật, phân tích mô học của các mẫu được cắt bỏ cho thấy 68% đoàn hệ không có khối u còn sót lại, 95% có khối u còn sót lại dưới 10% và 98% có khối u còn sót lại dưới 50%. Trong thời gian theo dõi trung bình là 26,2 tháng, không có bệnh nhân nào bị bệnh tái phát. Từ các tài liệu hiện có, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng điều trị hóa trị bổ trợ có sử hiệu quả quá kém hiệu quả khi so sánh với liệu pháp miễn dịch, khiến cho một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên không phù hợp.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 115 bệnh nhân, với độ tuổi trung bình là 60, được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến đại tràng có thể cắt bỏ. Sinh thiết khối u được nhuộm hóa mô miễn dịch để đánh giá khả năng của các protein sửa chữa đột biến không khớp như MLH1, PMS2, MSH2 và MSH6. Những người tham gia đã nhận được chế độ trị liệu miễn dịch với nivolumab và ipilimumab sáu tuần trước khi phẫu thuật cắt bỏ. Nivolumab được tiêm tĩnh mạch với hai liều: liều đầu tiên 3 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể vào ngày 1 và liều thứ hai vào ngày 15. Ipilimumab được tiêm một liều duy nhất 1 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể vào ngày 1. Sau phẫu thuật, phân tích mô học của các mẫu được cắt bỏ cho thấy 68% đoàn hệ không có khối u còn sót lại, 95% có khối u còn sót lại dưới 10% và 98% có khối u còn sót lại dưới 50%. Trong thời gian theo dõi trung bình là 26,2 tháng, không có bệnh nhân nào bị bệnh tái phát. Từ các tài liệu hiện có, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng điều trị hóa trị bổ trợ có sử hiệu quả quá kém hiệu quả khi so sánh với liệu pháp miễn dịch, khiến cho một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên không phù hợp.