Đánh giá hiệu quả hỗ trợ dinh dưỡng ở trẻ non tháng từ trung bình đến muộn
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 5 năm 2024
|
Nguy cơ chậm phát triển, bệnh tim chuyển hóa và tử vong cao hơn đáng kể ở trẻ sinh non từ 32 đến 36 tuần. Tuy nhiên, hiện tại có một khoảng trống nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của nhóm dân số này. Vì vậy, Hội đồng Nghiên cứu Y tế New Zealand đã tài trợ một nghiên cứu để kiểm tra hiệu quả của các can thiệp hỗ trợ dinh dưỡng khác nhau đối với thành phần mỡ cơ thể và thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh sinh non.
Nghiên cứu bao gồm 532 trẻ sơ sinh được điều trị tại đơn vị chăm sóc đặc biệt sơ sinh và được sinh trong khoảng từ 32 tuần 0 ngày đến 35 tuần 6 ngày thai kỳ. 62,4% số trẻ được sinh bằng phương pháp mổ, và gần một phần năm (19%) trong số đó được sinh bởi các bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ. Từ nhóm đối tượng này, các nhà nghiên cứu nhằm trả lời ba câu hỏi. Thứ nhất, hiệu quả của việc bổ sung qua đường tĩnh mạch bằng amino acid so với dextrose trong việc cải thiện thành phần mỡ cơ thể của trẻ là gì? Thứ hai, liệu việc tiêu thụ sữa bổ sung ở những trẻ không có đủ sữa mẹ bảo đảm sự phát triển thể chất tương tự như những trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ? Cuối cùng, liệu việc cho trẻ tiếp xúc với mùi vị của sữa trước khi cho ăn qua ống dạ dày có thể rút ngắn thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa không?
Sau 4 tháng quan sát, các nhà nghiên cứu kết luận rằng không có sự khác biệt đáng kể về thành phần mỡ cơ thể giữa trẻ được bổ sung qua đường tĩnh mạch bằng amino acid và dextrose cũng như giữa những trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ và những trẻ được bổ sung sữa công thức. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng việc thiếu các lợi ích có thể được giải thích rằng do thời gian can thiệp ngắn. Ngoài ra, không có sự khác biệt về thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa giữa trẻ tiếp xúc và không tiếp xúc với mùi và vị của sữa trước khi cho ăn qua đường dạ dày. Phát hiện này đi ngược lại với tài liệu hiện có, và các nhà nghiên cứu tin rằng sự khác biệt này có thể được giải thích bởi môi trường phong phú kích thích của khoa chăm sóc đặc biệt sơ sinh đã làm giảm mùi sữa ở nhóm được tiếp xúc.
Nghiên cứu bao gồm 532 trẻ sơ sinh được điều trị tại đơn vị chăm sóc đặc biệt sơ sinh và được sinh trong khoảng từ 32 tuần 0 ngày đến 35 tuần 6 ngày thai kỳ. 62,4% số trẻ được sinh bằng phương pháp mổ, và gần một phần năm (19%) trong số đó được sinh bởi các bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ. Từ nhóm đối tượng này, các nhà nghiên cứu nhằm trả lời ba câu hỏi. Thứ nhất, hiệu quả của việc bổ sung qua đường tĩnh mạch bằng amino acid so với dextrose trong việc cải thiện thành phần mỡ cơ thể của trẻ là gì? Thứ hai, liệu việc tiêu thụ sữa bổ sung ở những trẻ không có đủ sữa mẹ bảo đảm sự phát triển thể chất tương tự như những trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ? Cuối cùng, liệu việc cho trẻ tiếp xúc với mùi vị của sữa trước khi cho ăn qua ống dạ dày có thể rút ngắn thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa không?
Sau 4 tháng quan sát, các nhà nghiên cứu kết luận rằng không có sự khác biệt đáng kể về thành phần mỡ cơ thể giữa trẻ được bổ sung qua đường tĩnh mạch bằng amino acid và dextrose cũng như giữa những trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ và những trẻ được bổ sung sữa công thức. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng việc thiếu các lợi ích có thể được giải thích rằng do thời gian can thiệp ngắn. Ngoài ra, không có sự khác biệt về thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa giữa trẻ tiếp xúc và không tiếp xúc với mùi và vị của sữa trước khi cho ăn qua đường dạ dày. Phát hiện này đi ngược lại với tài liệu hiện có, và các nhà nghiên cứu tin rằng sự khác biệt này có thể được giải thích bởi môi trường phong phú kích thích của khoa chăm sóc đặc biệt sơ sinh đã làm giảm mùi sữa ở nhóm được tiếp xúc.