Nghiên cứu hiệu quả của Alectinib, một chất ức chế ALK, trong bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ALK
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 4 năm 2024
|
Khoảng 5% trong số tất cả các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) biểu hiện sự sắp xếp lại gen anaplastic lympho kinase (ALK). Tập hợp con cụ thể này của NSCLC có thể được điều trị bằng hóa trị liệu kết hợp dựa trên bạch kim; tuy nhiên, phác đồ điều trị này có những cải thiện khiêm tốn về tỷ lệ sống sót và có nguy cơ tái phát bệnh tương đối cao. Alectinib là một chất ức chế ALK và một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong việc quản lý NSCLC dương tính với ALK.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 257 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ dương tính với ALK. Sử dụng các tiêu chí do Ủy ban Hỗn hợp Ung thư Hoa Kỳ và Liên minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế đặt ra, nghiên cứu bao gồm 130 bệnh nhân giai đoạn IIIA, 88 bệnh nhân giai đoạn II và 39 bệnh nhân giai đoạn IB có khối u lớn hơn 4 cm. Hầu như tất cả các bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi để cắt bỏ khối u. Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng alectinib hoặc hóa trị liệu dựa trên bạch kim. Alectinib được dùng bằng đường uống với liều 600 mg hai lần một ngày trong 24 tháng. Đối với hóa trị liệu tiêm tĩnh mạch, sự kết hợp của cisplatin, vinorelbine và gemcitabine được dùng trong bốn chu kỳ 21 ngày. Cụ thể, cisplatin được dùng với liều 75 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể vào ngày 1 của mỗi chu kỳ, vinorelbine ở mức 25 mg/m2 (vào ngày 1 và 8), và gemcitabine ở mức 1250 mg/m2 ( vào ngày 1 và 8). Sau khi hoàn thành nghiên cứu, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ở những bệnh nhân ở giai đoạn II và IIIa, alectinib làm giảm 24% nguy cơ tử vong và tái phát bệnh. Việc sử dụng Alectinib cũng làm giảm 22% nguy cơ di căn đến hệ thần kinh trung ương.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 257 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ dương tính với ALK. Sử dụng các tiêu chí do Ủy ban Hỗn hợp Ung thư Hoa Kỳ và Liên minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế đặt ra, nghiên cứu bao gồm 130 bệnh nhân giai đoạn IIIA, 88 bệnh nhân giai đoạn II và 39 bệnh nhân giai đoạn IB có khối u lớn hơn 4 cm. Hầu như tất cả các bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi để cắt bỏ khối u. Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng alectinib hoặc hóa trị liệu dựa trên bạch kim. Alectinib được dùng bằng đường uống với liều 600 mg hai lần một ngày trong 24 tháng. Đối với hóa trị liệu tiêm tĩnh mạch, sự kết hợp của cisplatin, vinorelbine và gemcitabine được dùng trong bốn chu kỳ 21 ngày. Cụ thể, cisplatin được dùng với liều 75 mg/m2 diện tích bề mặt cơ thể vào ngày 1 của mỗi chu kỳ, vinorelbine ở mức 25 mg/m2 (vào ngày 1 và 8), và gemcitabine ở mức 1250 mg/m2 ( vào ngày 1 và 8). Sau khi hoàn thành nghiên cứu, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ở những bệnh nhân ở giai đoạn II và IIIa, alectinib làm giảm 24% nguy cơ tử vong và tái phát bệnh. Việc sử dụng Alectinib cũng làm giảm 22% nguy cơ di căn đến hệ thần kinh trung ương.