Thuốc đối kháng thụ thể IL-23 mới cho thấy có triển vọng trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2024
|
Bệnh vẩy nến phát sinh từ phản ứng viêm do interleukin-23 (IL-23) điều phối; vì vậy các phương pháp điều trị hiện tại tập trung hướng vào cytokine này. Hiện nay có nhiều liệu pháp đang nhắm đến IL-23 được biết như là liệu pháp sinh học cần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da, tuy nhien, các liệu pháp này gây ra sự bất tiện trong việc điều trị. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của JNJ-77242113 - một chất đối kháng thụ thể IL-23 mới có thể dùng bằng đường uống trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 255 bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến thể mảng từ trung bình đến nặng ảnh hưởng đến hơn 10% tổng diện tích bề mặt cơ thể của họ. Đánh giá cơ bản bằng cách sử dụng Chỉ số mức độ nghiêm trọng và vùng bệnh vẩy nến (PASI) cho thấy điểm trung bình là khoảng 19,1, với thời gian mắc bệnh trung bình là khoảng 18,2 năm. Các phương pháp điều trị trước đây bao gồm liệu pháp toàn thân cho 78% bệnh nhân và sinh học cho khoảng 16%. Nghiên cứu nhằm mục đích so sánh hiệu quả của năm mức liều lượng của JNJ-77242113 với giả dược. Năm liều JNJ-77242113 được đánh giá là 25 mg một lần mỗi ngày, 25 mg hai lần mỗi ngày, 50 mg một lần mỗi ngày, 100 mg một lần mỗi ngày và 100 mg hai lần mỗi ngày. Sau 16 tuần điều trị, liều cao nhất (100 mg hai lần mỗi ngày) của JNJ-77242113 đã chứng minh sự giảm đáng kể về điểm PASI tới 75%, vượt trội đáng kể so với mức giảm 9% được quan sát thấy ở nhóm dùng giả dược. Mức liều thấp hơn cũng cho thấy hiệu quả cao hơn đáng kể so với nhóm dùng giả dược, mặc dù không đạt đến mức độ được thấy ở liều cao nhất. Về tác dụng phụ, không có sự gia tăng đáng kể nào về tác dụng phụ khi tăng liều.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 255 bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến thể mảng từ trung bình đến nặng ảnh hưởng đến hơn 10% tổng diện tích bề mặt cơ thể của họ. Đánh giá cơ bản bằng cách sử dụng Chỉ số mức độ nghiêm trọng và vùng bệnh vẩy nến (PASI) cho thấy điểm trung bình là khoảng 19,1, với thời gian mắc bệnh trung bình là khoảng 18,2 năm. Các phương pháp điều trị trước đây bao gồm liệu pháp toàn thân cho 78% bệnh nhân và sinh học cho khoảng 16%. Nghiên cứu nhằm mục đích so sánh hiệu quả của năm mức liều lượng của JNJ-77242113 với giả dược. Năm liều JNJ-77242113 được đánh giá là 25 mg một lần mỗi ngày, 25 mg hai lần mỗi ngày, 50 mg một lần mỗi ngày, 100 mg một lần mỗi ngày và 100 mg hai lần mỗi ngày. Sau 16 tuần điều trị, liều cao nhất (100 mg hai lần mỗi ngày) của JNJ-77242113 đã chứng minh sự giảm đáng kể về điểm PASI tới 75%, vượt trội đáng kể so với mức giảm 9% được quan sát thấy ở nhóm dùng giả dược. Mức liều thấp hơn cũng cho thấy hiệu quả cao hơn đáng kể so với nhóm dùng giả dược, mặc dù không đạt đến mức độ được thấy ở liều cao nhất. Về tác dụng phụ, không có sự gia tăng đáng kể nào về tác dụng phụ khi tăng liều.