Điều trị testosterone và nguy cơ gãy xương ở nam giới bị suy sinh dục
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 3 năm 2024
|
Suy tuyến sinh dục ở nam giới dưới dạng rối loạn chức năng tinh hoàn hoặc tuyến yên có liên quan đến việc giảm mật độ xương. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng liệu pháp testosterone có thể đảo ngược tình trạng thiếu xương này. Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó có những hạn chế về thời lượng và số lượng người tham gia. Do đó, một nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của testosterone trong việc ngăn ngừa gãy xương ở nam giới bị suy sinh dục.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 4 bao gồm 5204 nam giới từ 45 đến 80 tuổi được chẩn đoán lâm sàng về chứng suy sinh dục, đặc trưng bởi mức testosterone buổi sáng dưới 300 ng/dl. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị qua da bằng gel chứa 1,62% testosterone hoặc giả dược có đặc điểm tương tự. Sau thời gian theo dõi trung bình khoảng 3,19 năm, kết quả này mâu thuẫn với giả thuyết ban đầu và được công bố rằng việc sử dụng testosterone làm tăng nguy cơ gãy xương lên 43%. Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như tuân thủ điều trị dưới mức tối ưu và nồng độ testosterone trong huyết thanh thấp có thể ảnh hưởng đến kết quả. Ngoài ra, nghiên cứu đã không đánh giá sự khác biệt về mức độ hoạt động thể chất hoặc hành vi chấp nhận rủi ro giữa các bệnh nhân tham gia nghiên cứu hai nhóm.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 4 bao gồm 5204 nam giới từ 45 đến 80 tuổi được chẩn đoán lâm sàng về chứng suy sinh dục, đặc trưng bởi mức testosterone buổi sáng dưới 300 ng/dl. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị qua da bằng gel chứa 1,62% testosterone hoặc giả dược có đặc điểm tương tự. Sau thời gian theo dõi trung bình khoảng 3,19 năm, kết quả này mâu thuẫn với giả thuyết ban đầu và được công bố rằng việc sử dụng testosterone làm tăng nguy cơ gãy xương lên 43%. Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như tuân thủ điều trị dưới mức tối ưu và nồng độ testosterone trong huyết thanh thấp có thể ảnh hưởng đến kết quả. Ngoài ra, nghiên cứu đã không đánh giá sự khác biệt về mức độ hoạt động thể chất hoặc hành vi chấp nhận rủi ro giữa các bệnh nhân tham gia nghiên cứu hai nhóm.