​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Sử dụng Repotrecitinib để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có đột biến ở thụ thể ROS1

Picture
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2024
Picture

Đột biến ở thụ thể tyrosine kinase ROS1 chiếm 2% trong tổng số các trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Hiện nay, Crizotinib và Entrecitinib là hai chất ức chế ROS1 đang được sử dụng. Tuy nhiên, sự hiệu quả của hai loại thuốc trên tương đối giới hạn bởi vì tình trạng đề kháng đã xuất hiện ở hơn nửa số trường hợp. Và hoạt động trong não của thuốc không tốt và vô hiệu hóa trong các tình huống di căn. Repotrecitinib, một chất đối kháng ROS1 phân tử nhỏ mới, đại diện cho một lựa chọn thế hệ tiếp theo có khả năng thâm nhập vào não dễ dàng và không phụ thuộc vào cơ chế đề kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã công bố những phát hiện về hiệu quả của Repotrecitinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ROS1.

Thử nghiệm lâm sàng kết hợp giai đoạn 1 và 2 ghi nhận những bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ dương tính với ROS1. Nghiên cứu giai đoạn 1 có sự tham gia của 103 bệnh nhân với mục tiêu đánh giá tính an toàn và sự hiệu quả của hai liều Repotrecitinib - 160 mg so với 240 mg. Giai đoạn 2 bao gồm 426 bệnh nhân, với phân tích hiệu quả tập trung vào 127 cá nhân. Trong số này, 71 người chưa được điều trị với bất kỳ chất ức chế ROS1 nào. 56 bệnh nhân còn lại đã nhận được ít nhất một thuốc ức chế. Bệnh nhân được dùng liều uống 160 mg Repotrecitinib một lần mỗi ngày trong hai tuần, sau đó tăng lên 160 mg hai lần mỗi ngày. Phản ứng của khối u được đánh giá bằng cách sử dụng tiêu chí quốc tế Response Evaluation Criteria in Solid Tumors. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giảm khối u ở 79% bệnh nhân chưa từng điều trị và tỷ lệ hiệu quả là 38% ở những người trước đây đã được điều trị bằng thuốc ức chế ROS1. Sự khác biệt về hiệu quả này tương quan với sự khác biệt gần gấp đôi về thời gian sống sót không tiến triển bệnh. Trong số 426 bệnh nhân được phân tích ở giai đoạn 2, chóng mặt là tác dụng phụ được báo cáo thường xuyên nhất, tiếp theo là rối loạn vị giác và cảm tê buốt.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues