Sử dụng Sibeprenlimab để chữa trị bệnh thận IgA
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 2 năm 2024
|
Bệnh thận IgA là nguy cơ hàng đầu dẫn đến bệnh viêm cầu thận. Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch của người bệnh sản xuất kháng thể IgA không có galactose mà các kháng thể khác có thể bám vào để hình thành các hợp thể mà cầu thận không đào thải được. Một nghiên cứu đã khám phá sự hiệu quả của Sibeprenlimab trong việc quản lý bệnh thận IgA. Thuốc hoạt động bằng cách ức chế protein APRIL, một protein quan trọng trong hoạt động miễn dịch của tế bào B.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 155 bệnh nhân đã được chẩn đoán với bệnh thận IgA đã được kiểm chứng bằng sinh thiết. Các bệnh nhân có tỷ lệ protein trên creatinine trong nước tiểu hơn 0.75 và có độ lọc cầu thận trên 30 mL/phút/1,73m2. Lượng IgG, IgM, và IgA trong huyết thanh tối thiểu của các bệnh nhân là 700, 37, và 70 mg/dL. Các bệnh nhân được ngâu nhiên điều trị với giả dược hoặc Sibeprenlimab. Thuốc được tiêm vào tĩnh mạch và nồng độ thuốc được thử nghiệm bao gồm 2, 4, và 8 mg trên mỗi kilogram trọng lượng cơ thể. Sau 12 tháng điều trị, lượng IgA không có galactose ở các bệnh nhân dùng Sibeprenlimab giảm đáng kể hơn nhóm dùng giả dược. Tỷ lệ protein trên creatinine trong nước tiểu của nhóm giả dược giảm 20%; trong khi đó tỷ lệ trên giảm 47% ở nhóm dùng 2 mg Sibeprenlimab, và 60% ở hai nhóm dùng liều cao hơn. Thêm vào đó, chức năng thận, đo nhận bằng độ lọc cầu thận ở nhóm dùng creatinine suy giảm trầm trọng; nhung độ lọc cầu thận ở các bệnh nhân dùng Sibeprenlimab không có cải thiện đáng kể.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 155 bệnh nhân đã được chẩn đoán với bệnh thận IgA đã được kiểm chứng bằng sinh thiết. Các bệnh nhân có tỷ lệ protein trên creatinine trong nước tiểu hơn 0.75 và có độ lọc cầu thận trên 30 mL/phút/1,73m2. Lượng IgG, IgM, và IgA trong huyết thanh tối thiểu của các bệnh nhân là 700, 37, và 70 mg/dL. Các bệnh nhân được ngâu nhiên điều trị với giả dược hoặc Sibeprenlimab. Thuốc được tiêm vào tĩnh mạch và nồng độ thuốc được thử nghiệm bao gồm 2, 4, và 8 mg trên mỗi kilogram trọng lượng cơ thể. Sau 12 tháng điều trị, lượng IgA không có galactose ở các bệnh nhân dùng Sibeprenlimab giảm đáng kể hơn nhóm dùng giả dược. Tỷ lệ protein trên creatinine trong nước tiểu của nhóm giả dược giảm 20%; trong khi đó tỷ lệ trên giảm 47% ở nhóm dùng 2 mg Sibeprenlimab, và 60% ở hai nhóm dùng liều cao hơn. Thêm vào đó, chức năng thận, đo nhận bằng độ lọc cầu thận ở nhóm dùng creatinine suy giảm trầm trọng; nhung độ lọc cầu thận ở các bệnh nhân dùng Sibeprenlimab không có cải thiện đáng kể.