So sánh hiệu quả của Sparsentan và Irbesartan trong việc điều trị bệnh viêm cầu thận phân đoạn khu trú
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 21 tháng 2 năm 2024
|
Việc trữ nước do quá trình nội tiết renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) gia tăng nguy cơ viêm cầu thận phân đoạn khu trú. Sử dụng các dược phẩm ức chế quá trình RAAS đã có sự hiệu quả trong việc giảm protein niệu và ảnh hưởng lên thận. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh sự hiệu quả của Sparsentan, thuốc ức chế thụ thể endothelin-angiotensin, với Irbesartan, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II trong việc quản lý bệnh viêm cầu thận phân đoạn khu trú.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 371 bệnh nhân được chẩn đoán với bệnh viêm cầu thận phân đoạn khu trú với mức độ với tỷ lệ protein:creatinin trong nước tiểu trên 1.5 và có độ lọc cầu thận trên 30 mL/phút/1,73m2. Các bệnh nhân được ngẫu nhiên phân vào hai nhóm điều trị: 800 mg Sparsentan mỗi ngày hoặc 300 mg Irbesartan mỗi ngày. Sau 36 tuần, nhóm nghiên cứu tỷ lệ các bệnh nhân bị protein niệu trong nhóm dùng Sparsentan là 42% và 20% trong nhóm dùng Irbesartan. Lợi ích này kéo dài qua tuần thứ 108 của nghiên cứu, nhưng nhóm nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt đáng kể ở độ lọc cầu thận của hai nhóm. Sự kém khác biệt ở độ lọc cầu thận có thể được giải thích bởi tính chất khác thể của nhóm nghiên cứu và việc sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch trong lúc nghiên cứu.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 371 bệnh nhân được chẩn đoán với bệnh viêm cầu thận phân đoạn khu trú với mức độ với tỷ lệ protein:creatinin trong nước tiểu trên 1.5 và có độ lọc cầu thận trên 30 mL/phút/1,73m2. Các bệnh nhân được ngẫu nhiên phân vào hai nhóm điều trị: 800 mg Sparsentan mỗi ngày hoặc 300 mg Irbesartan mỗi ngày. Sau 36 tuần, nhóm nghiên cứu tỷ lệ các bệnh nhân bị protein niệu trong nhóm dùng Sparsentan là 42% và 20% trong nhóm dùng Irbesartan. Lợi ích này kéo dài qua tuần thứ 108 của nghiên cứu, nhưng nhóm nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt đáng kể ở độ lọc cầu thận của hai nhóm. Sự kém khác biệt ở độ lọc cầu thận có thể được giải thích bởi tính chất khác thể của nhóm nghiên cứu và việc sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch trong lúc nghiên cứu.