Kéo dài thời gian điều trị Teplizumab để trì hoãn sự tiến triển của bệnh tiểu đường loại 1
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
|
Bệnh tiểu đường loại 1 biểu hiện thông qua sự tấn công tự miễn dịch vào các tế bào beta tuyến tụy chịu trách nhiệm sản xuất insulin. Vì vậy, việc làm suy giảm phản ứng miễn dịch này có thể có khả năng trì hoãn sự khởi phát của bệnh tiểu đường. Teplizumab là một kháng thể có khả năng liên kết với tế bào T CD3 và ức chế phản ứng của chúng đã nhận được sự chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm để điều trị ngắn hạn ở bệnh tiểu đường loại 1. Do đó, công ty dược phẩm sinh học Sanofi đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm khám phá khả năng kéo dài thời gian điều trị bằng Teplizumab để làm chậm thêm sự tiến triển của bệnh tiểu đường loại 1.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 328 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 1 gần đây trong vòng 6 tuần kể từ khi đăng ký nghiên cứu. Độ tuổi trung bình của đoàn hệ là 12,1 tuổi, với chỉ số khối cơ thể trung bình là 18,9. Các phép đo cơ bản cho thấy mức C-peptide trung bình là 0,738 pmol/mL và mức glycated hemoglobin là 9,0%. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để nhận Teplizumab hoặc giả dược. Liều Teplizumab được tiêm vào tĩnh mạch và dùng hàng ngày trong hai đợt điều trị 12 ngày cách nhau 26 tuần, với tổng liều 9 mg/m2 cho mỗi đợt điều trị. Sau 78 tuần, những người được điều trị bằng Teplizumab có mức C-peptide cao hơn 0,13 pmol/mL so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ glycated hemoglobin và liều lượng insulin giữa hai nhóm. Đáng chú ý là việc sử dụng Teplizumab có liên quan đến tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, đặc biệt là tăng nguy cơ mắc hội chứng giải phóng cytokine và tăng men gan.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 328 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 1 gần đây trong vòng 6 tuần kể từ khi đăng ký nghiên cứu. Độ tuổi trung bình của đoàn hệ là 12,1 tuổi, với chỉ số khối cơ thể trung bình là 18,9. Các phép đo cơ bản cho thấy mức C-peptide trung bình là 0,738 pmol/mL và mức glycated hemoglobin là 9,0%. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để nhận Teplizumab hoặc giả dược. Liều Teplizumab được tiêm vào tĩnh mạch và dùng hàng ngày trong hai đợt điều trị 12 ngày cách nhau 26 tuần, với tổng liều 9 mg/m2 cho mỗi đợt điều trị. Sau 78 tuần, những người được điều trị bằng Teplizumab có mức C-peptide cao hơn 0,13 pmol/mL so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ glycated hemoglobin và liều lượng insulin giữa hai nhóm. Đáng chú ý là việc sử dụng Teplizumab có liên quan đến tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, đặc biệt là tăng nguy cơ mắc hội chứng giải phóng cytokine và tăng men gan.