​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Đánh giá tác động của Erdafitinib, chất ức chế FGFR, đối với ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​
Đăng vào ngày 17 tháng 1 năm 2024
Picture

Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn hiện đang được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên cisplatin. Tuy nhiên, tiêu chí đủ điều kiện cho liệu pháp này khá nghiêm ngặt và hiệu quả của nó trong việc kiểm soát bệnh còn hạn chế. Ngoài ra, phương pháp điều trị bậc hai sử dụng thuốc ức chế PD-1 và PD-L1 đã được chứng minh là không hiệu quả. Do đó, nhu cầu cấp thiết phải có những can thiệp mới. Khoảng 1/5 số bệnh nhân này có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGFR), một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của chất ức chế FGFR có tên Erdafitinib trong việc giải quyết ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn.

Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 266 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư biểu mô tiết niệu di căn và không thể cắt bỏ do có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi. Độ tuổi trung bình của những người tham gia nghiên cứu là khoảng 66 tuổi, với hơn 2/3 đã trải qua ít nhất hai loại trị liệu toàn thân khác trước đó. Một nửa số người tham gia được dùng Erdafitinib đường uống với liều 8 mg, trong khi nửa còn lại trải qua hóa trị liệu tiêu chuẩn bằng docetaxel hoặc vinflunine. Trong thời gian theo dõi trung bình là 16 tháng, những người được điều trị bằng Erdafitinib có thời gian sống sót trung bình là 12,1 tháng, dài hơn đáng kể so với 7,8 tháng được quan sát thấy ở nhóm hóa trị đối chứng. Điều này giúp giảm 36% nguy cơ tử vong do sử dụng Erdafitinib. Về sự tiến triển của bệnh, Erdafitinib thể hiện tính ưu việt so với hóa trị liệu tiêu chuẩn, chứng tỏ sự chậm phát triển của khối u trong 5,6 tháng, cho thấy nguy cơ thấp hơn 42% so với nhóm đối chứng. Đáng chú ý, không có sự khác biệt đáng kể về tác dụng phụ giữa hai nhóm, trong đó các tác dụng phụ gây tử vong ít phổ biến hơn ở những người được điều trị bằng Erdafitinib.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues