Sử dụng Tarlatamab trong việc điều trị Ung thư phổi tế bào nhỏ
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 11 năm 2023
|
Ung thư phổi tế bào nhỏ được biết đến với tính chất hung hãn và có xu hướng tái phát ngay cả sau khi điều trị ban đầu. Các lựa chọn điều trị thứ cấp còn hạn chế, và các phương pháp điều trị hiện tại cho thấy mang lại hiệu quả tương đối thấp. Tarlatamab, một chất tham gia tế bào T đặc hiệu kép, hoạt động bằng cách tăng cường khả năng phát hiện các tế bào ung thư biểu hiện DLL-3 bởi tế bào T của bệnh nhân, do đó làm tăng khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư này. Công ty dược phẩm mang tên Amgen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Tarlatamab trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 220 bệnh nhân trước đây được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ đã tái phát lại sau phương pháp hóa trị liệu bạch kim ban đầu, và khoảng 95% số bệnh nhân này bị di căn. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận hai liều Tarlatamab - 10 mg và 100 mg - tiêm tĩnh mạch mỗi hai tuần. Sau thời gian theo dõi trung bình 10 tháng, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy kích thước khối u giảm ở khoảng 40% bệnh nhân, với tỷ lệ sống sót sau 9 tháng ước tính là khoảng 65%. So sánh hai liều, có rất ít sự khác biệt về hiệu quả, nhưng xét về độ an toàn, liều 10 mg được coi là vượt trội hơn liều 100 mg. Các tác dụng phụ thường gặp, bao gồm giảm cảm giác thèm ăn, hội chứng giải phóng cytokine và sốt, ít gặp hơn đáng kể ở nhóm dùng liều 10 mg.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 220 bệnh nhân trước đây được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi tế bào nhỏ đã tái phát lại sau phương pháp hóa trị liệu bạch kim ban đầu, và khoảng 95% số bệnh nhân này bị di căn. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận hai liều Tarlatamab - 10 mg và 100 mg - tiêm tĩnh mạch mỗi hai tuần. Sau thời gian theo dõi trung bình 10 tháng, các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy kích thước khối u giảm ở khoảng 40% bệnh nhân, với tỷ lệ sống sót sau 9 tháng ước tính là khoảng 65%. So sánh hai liều, có rất ít sự khác biệt về hiệu quả, nhưng xét về độ an toàn, liều 10 mg được coi là vượt trội hơn liều 100 mg. Các tác dụng phụ thường gặp, bao gồm giảm cảm giác thèm ăn, hội chứng giải phóng cytokine và sốt, ít gặp hơn đáng kể ở nhóm dùng liều 10 mg.