Bổ sung Vancomycin vào phác đồ kháng sinh dự phòng Cefazolin cho bệnh nhân phẫu thuật thay khớp
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 11 năm 2023
|
Các cuộc phẫu tạo hình khớp nhằm thay thế hoặc chỉnh sửa khớp gối và khớp háng ngày càng phổ biến do dân số ngày càng già đi. Trong quá trình phẫu thuật khớp, cephalosporin thứ nhất và thứ hai, chẳng hạn như cefazolin, thường được sử dụng để ngăn ngừa nhiễm trùng. Tuy nhiên, do sự gia tăng của nhiễm trùng bệnh viện gây ra bởi Staphylococcus Aureus kháng methicillin (MRSA) thì cần có biện pháp dự phòng hiệu quả hơn. Để giải quyết mối lo ngại này, Hội đồng Nghiên cứu Y tế và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vancomycin vào chế độ điều trị dự phòng cho bệnh nhân trải qua phẫu thuật tạo hình khớp.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 4 với sự tham gia của 4113 người tham gia có độ tuổi trung bình là 66 tuổi. Một nửa số người tham gia đã trải qua phẫu thuật khớp gối, trong khi nửa còn lại được phẫu thuật khớp hông. Những người tham gia có chỉ số khối cơ thể trung bình khoảng 30,7, với khoảng 12% bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi bệnh tiểu đường và khoảng 6% bệnh nhân được chuẩn đoán bị ức chế miễn dịch. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận vancomycin hoặc giả dược nước muối cùng với điều trị dự phòng bằng cefazolin tiêu chuẩn. Cả hai loại kháng sinh đều được tiêm tĩnh mạch, với cefazolin liều 2 grams và vancomycin 1,5 grams. Đối với bệnh nhân nặng dưới 50 kg, liều vancomycin giảm xuống còn 1,0 gram. Các nhà nghiên cứu quan sát thấy tỷ lệ nhiễm trùng vết thương phẫu thuật là 4,5% ở những bệnh nhân được điều trị bằng vancomycin và cefazolin, trong khi đó là 3,5% ở những người dùng giả dược và cefazolin. Do đó, nghiên cứu kết luận rằng việc sử dụng vancomycin không làm giảm đáng kể nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. Do không có tính ưu việt, vancomycin không nên được sử dụng thường xuyên như một biện pháp dự phòng mà chỉ nên sử dụng như một loại thuốc kháng sinh cuối cùng để ngăn ngừa sự phát triển của tình trạng kháng thuốc.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 4 với sự tham gia của 4113 người tham gia có độ tuổi trung bình là 66 tuổi. Một nửa số người tham gia đã trải qua phẫu thuật khớp gối, trong khi nửa còn lại được phẫu thuật khớp hông. Những người tham gia có chỉ số khối cơ thể trung bình khoảng 30,7, với khoảng 12% bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi bệnh tiểu đường và khoảng 6% bệnh nhân được chuẩn đoán bị ức chế miễn dịch. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận vancomycin hoặc giả dược nước muối cùng với điều trị dự phòng bằng cefazolin tiêu chuẩn. Cả hai loại kháng sinh đều được tiêm tĩnh mạch, với cefazolin liều 2 grams và vancomycin 1,5 grams. Đối với bệnh nhân nặng dưới 50 kg, liều vancomycin giảm xuống còn 1,0 gram. Các nhà nghiên cứu quan sát thấy tỷ lệ nhiễm trùng vết thương phẫu thuật là 4,5% ở những bệnh nhân được điều trị bằng vancomycin và cefazolin, trong khi đó là 3,5% ở những người dùng giả dược và cefazolin. Do đó, nghiên cứu kết luận rằng việc sử dụng vancomycin không làm giảm đáng kể nguy cơ nhiễm trùng vết mổ. Do không có tính ưu việt, vancomycin không nên được sử dụng thường xuyên như một biện pháp dự phòng mà chỉ nên sử dụng như một loại thuốc kháng sinh cuối cùng để ngăn ngừa sự phát triển của tình trạng kháng thuốc.