So sánh sự hiệu quả của Enzalutamide, Leuprolide, và kết hợp cả hai trong việc điều trị ung thư tuyến tiền liệt
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 11 năm 2023
|
Các nghiên cứu giám sát trước đây đã quan sát thấy rằng bệnh tái phát xảy ra ở khoảng 50% bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt được hóa trị. Sự tái phát bệnh này được đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) và mức độ tăng có liên quan nghịch với khả năng sống sót. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Enzalutamide, một chất ức chế thụ thể androgen và Leuprolide, một chất chủ vận hormone giải phóng gonadotropin, trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt tái phát.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 có sự tham gia của 1068 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 70 tuổi. Những bệnh nhân này có mức PSA trung bình khoảng 5,0 ng/mL. Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng Enzalutamide, Leuprolide hoặc liệu trình kết hợp cả hai loại thuốc này. Enzalutamide được dùng bằng đường uống mỗi ngày một lần với liều 160 mg, trong khi Leuprolide được dùng qua đường tiêm cơ bắp hoặc tiêm dưới da với liều 22,5 mg mỗi 12 tuần. Sau 5 năm điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy Leuprolide ngăn ngừa di căn ở 71,4% bệnh nhân, trong khi Enzalutamide ngăn ngừa di căn ở 80% bệnh nhân. Liệu pháp phối hợp cả hai phương pháp điều trị là hiệu quả nhất, ngăn ngừa di căn ở 87,4% bệnh nhân. Do đó, các nhà nghiên cứu kết luận rằng cả liệu pháp phối hợp và đơn trị liệu bằng Enzalutamide đều vượt trội hơn so với việc chỉ sử dụng Leuprolide. Nghiên cứu cũng không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về tác dụng phụ giữa ba nhóm.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 có sự tham gia của 1068 bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 70 tuổi. Những bệnh nhân này có mức PSA trung bình khoảng 5,0 ng/mL. Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng Enzalutamide, Leuprolide hoặc liệu trình kết hợp cả hai loại thuốc này. Enzalutamide được dùng bằng đường uống mỗi ngày một lần với liều 160 mg, trong khi Leuprolide được dùng qua đường tiêm cơ bắp hoặc tiêm dưới da với liều 22,5 mg mỗi 12 tuần. Sau 5 năm điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy Leuprolide ngăn ngừa di căn ở 71,4% bệnh nhân, trong khi Enzalutamide ngăn ngừa di căn ở 80% bệnh nhân. Liệu pháp phối hợp cả hai phương pháp điều trị là hiệu quả nhất, ngăn ngừa di căn ở 87,4% bệnh nhân. Do đó, các nhà nghiên cứu kết luận rằng cả liệu pháp phối hợp và đơn trị liệu bằng Enzalutamide đều vượt trội hơn so với việc chỉ sử dụng Leuprolide. Nghiên cứu cũng không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về tác dụng phụ giữa ba nhóm.