​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Điều trị khối u rắn với đột biến KRAS G12C bằng Divarasib

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 18 tháng 9 năm 2023
Picture

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng 12% trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và 4% trường hợp ung thư đại trực tràng có đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin thứ 12 của protein KRAS. Những trường hợp ung thư này thường được điều trị bằng các chất chống khối u như Sotorasib và Adagrasib; tuy nhiên, hiệu quả của chúng là dưới mức tối ưu. Vì vậy, cần có chất ức chế KRAS G12C mạnh hơn. Gần đây, một nghiên cứu đã công bố những phát hiện của họ về tính hiệu quả và an toàn của Divarasib trên Tạp chí Y học New England.

Divarasib được phát triển bởi Genentech và các nghiên cứu in vitro trước đây đã chỉ ra rằng hiệu lực của nó lớn hơn Sotorasib 20 lần và lớn hơn Adagrasib 50 lần. Do đó, một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 tiếp theo đã được tiến hành với 137 bệnh nhân được chẩn đoán có khối u rắn di căn với đột biến KRAS G12C. Để xác định liều lượng hiệu quả nhất và an toàn nhất, các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để nhận 4 mức liều Divarasib khác nhau bằng đường uống - 40 mg, 100 mg, 200 mg và 400 mg - mỗi ngày một lần, cứ sau 21 ngày. Chu kỳ này tiếp tục cho đến khi bệnh nhân rút khỏi nghiên cứu hoặc bệnh của họ tiến triển. Thời gian điều trị trung bình là 6,9 tháng và các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng Divarasib giúp giảm kích thước khối u đại trực tràng và NSCLC ở 29,1% và 53,4% bệnh nhân. Mặc dù không hoàn hảo nhưng so sánh nghiên cứu chéo cho thấy tỷ lệ đáp ứng một phần của Divarasib cao hơn Sotorasib. Divarasib ngăn chặn sự phát triển của khối u; thời gian sống sót không tiến triển trung bình là 13,1 tháng đối với nhóm NSCLC và 5,6 tháng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng. Mặc dù dùng liều cao nhưng các nhà nghiên cứu không phát hiện bất kỳ thay đổi đáng kể nào về độc tính khi tăng liều. Hầu hết các tác dụng phụ đều ở mức độ nhẹ đến trung bình; chỉ có 12% các sự kiện được báo cáo là nghiêm trọng. Tuy nhiên, rất ít kết luận có thể được kết luận từ kết quả này, vì không có nhóm đối chứng nào được điều trị bằng giả dược hoặc chế độ điều trị khác.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues