Kìm hãm tình trạng viêm loại 2 gây ra bệnh tắc nghẽn hô hấp mãn tính bằng dupilumab
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 8 năm 2023
|
Chứng rối loạn phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bị gây ra bởi tình trạng viêm loại 2 được điều phối bởi các cytokine như IL-4, IL-5 và IL-13. Dupilumab là một kháng thể đơn dòng có thể liên kết với thụ thể chung giữa IL-4 và IL-13. Hiện nay, có rất nhiều giả thuyết tin rằng việc ngừng sử dụng dupilumab có thể làm giảm cường độ viêm và mức độ nghiêm trọng của COPD. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá giả thuyết trên.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 939 bệnh nhân hiện đang hoặc đã từng hút thuốc trong độ tuổi từ 40 đến 80. Những bệnh nhân này đã sử dụng glucocorticoid dạng hít cùng với thuốc đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài và thuốc chủ vận β2 tác dụng kéo dài trong ít nhất 3 tháng. Thể tích thở ra gắng sức sau thuốc giãn phế quản trong 1 giây (FEV1) của họ nằm trong khoảng từ 30 đến 70% giá trị bình thường. Những người tham gia nghiên cứu được chỉ định ngẫu nhiên để nhận một mũi tiêm dưới da có chứa giả dược hoặc 300 mg dupilumab mỗi 2 tuần. Sau 52 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng dupilumab làm giảm 30% tỷ lệ mắc bệnh COPD từ trung bình đến nặng. Ngoài ra, khi so sánh với mức cơ bản, dupilumab đã tăng giá trị FEV1 lên 160 mL, cao hơn đáng kể so với mức tăng 83 mL được quan sát thấy ở nhóm đối chứng. Những cải tiến chức năng này dẫn đến kết quả lâm sàng và chất lượng cuộc sống tốt hơn khi được đo bằng Bảng câu hỏi hô hấp của St. George và Đánh giá các triệu chứng hô hấp trong công cụ COPD. Về mặt an toàn, không có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng phụ giữa hai nhóm.
Cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 939 bệnh nhân hiện đang hoặc đã từng hút thuốc trong độ tuổi từ 40 đến 80. Những bệnh nhân này đã sử dụng glucocorticoid dạng hít cùng với thuốc đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài và thuốc chủ vận β2 tác dụng kéo dài trong ít nhất 3 tháng. Thể tích thở ra gắng sức sau thuốc giãn phế quản trong 1 giây (FEV1) của họ nằm trong khoảng từ 30 đến 70% giá trị bình thường. Những người tham gia nghiên cứu được chỉ định ngẫu nhiên để nhận một mũi tiêm dưới da có chứa giả dược hoặc 300 mg dupilumab mỗi 2 tuần. Sau 52 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng dupilumab làm giảm 30% tỷ lệ mắc bệnh COPD từ trung bình đến nặng. Ngoài ra, khi so sánh với mức cơ bản, dupilumab đã tăng giá trị FEV1 lên 160 mL, cao hơn đáng kể so với mức tăng 83 mL được quan sát thấy ở nhóm đối chứng. Những cải tiến chức năng này dẫn đến kết quả lâm sàng và chất lượng cuộc sống tốt hơn khi được đo bằng Bảng câu hỏi hô hấp của St. George và Đánh giá các triệu chứng hô hấp trong công cụ COPD. Về mặt an toàn, không có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng phụ giữa hai nhóm.