Pirtobrutinib, hợp chất ức chế BTK để chữa trị ung thư bạch cầu dòng lympho mãn tính
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 07 tháng 8 năm 2023
|
Việc sử dụng các hoạt chất ức chế BTK như ibrutinib và zanubrutinib là một trong những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính. Tuy nhiên, khả năng kháng lại các hoạt chất này có thể xuất hiện dưới dạng đột biến C481. Vì vậy, venetoclax có thể được sử dụng như liệu trình thay thế trong các trường hợp này. Tuy nhiên, việc sử dụng venetoclax lại đòi hỏi sự thận trọng trong việc gia tăng liều lượng trong môi trường điều trị nội trú. Gần đây, Pirtobrutinib, một chất ức chế BTK mới, đã được đánh giá để xem xét: liệu hoạt chất có thể sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu mãn tính, và kết quả đã được công bố trong bài nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England.
Pirtobrutinib trước đây được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để điều trị bệnh U lymphô tế bào áo nang/ U lymphô tế bào vỏ. Hoạt chất này có sự khác biệt so với các chất ức chế BTK khác đã được phê duyệt trước đó: vì nó ít chọn lọc hơn. Đặc tính này cho phép hoạt chất có thể kết hợp cả với loại BTK bình thường hoặc đột biến C481 ở BTK. Cuộc thử nghiệm lâm sàng đã lựa chọn tổng cộng 317 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính, và giai đoạn 1 nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liều tối ưu của Pirtobrutinib là 200 mg. Sau đó, trong cuộc thử nghiệm giai đoạn 2, bệnh nhân được tiêm 200 mg Pirtobrutinib một lần mỗi ngày trong một chu kỳ 28 ngày. Xét nghiệm CT và phân tích tủy xương đã được thực hiện song song với việc giám sát triệu chứng lâm sàng để đánh giá hiệu quả của thuốc. Sau thời gian điều trị trung bình là 16.5 tháng, các nhà nghiên cứu kết luận rằng Pirtobrutinib đã giúp giảm lượng tế bào ung thư ở 73.3% số bệnh nhân. Thời gian sống thêm không tiến triển (progression-free survival - PFS) của nhóm bệnh nhân này là 19.6 tháng. Đánh giá về an toàn cho thấy rằng 71% số bệnh nhân gặp nhiễm trùng, 42.6% gặp chảy máu và 32.5% bị giảm bạch cầu. Chỉ có 9 bệnh nhân ngừng điều trị do gặp phải tác dụng phụ. Hiện nay, các cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đang tiếp tục tiến hành để nhằm hiểu rõ hơn về hiệu quả lâm sàng và tính an toàn của Pirtobrutinib so với nhóm giả dược và các phương án điều trị khác.
Pirtobrutinib trước đây được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt để điều trị bệnh U lymphô tế bào áo nang/ U lymphô tế bào vỏ. Hoạt chất này có sự khác biệt so với các chất ức chế BTK khác đã được phê duyệt trước đó: vì nó ít chọn lọc hơn. Đặc tính này cho phép hoạt chất có thể kết hợp cả với loại BTK bình thường hoặc đột biến C481 ở BTK. Cuộc thử nghiệm lâm sàng đã lựa chọn tổng cộng 317 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính, và giai đoạn 1 nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liều tối ưu của Pirtobrutinib là 200 mg. Sau đó, trong cuộc thử nghiệm giai đoạn 2, bệnh nhân được tiêm 200 mg Pirtobrutinib một lần mỗi ngày trong một chu kỳ 28 ngày. Xét nghiệm CT và phân tích tủy xương đã được thực hiện song song với việc giám sát triệu chứng lâm sàng để đánh giá hiệu quả của thuốc. Sau thời gian điều trị trung bình là 16.5 tháng, các nhà nghiên cứu kết luận rằng Pirtobrutinib đã giúp giảm lượng tế bào ung thư ở 73.3% số bệnh nhân. Thời gian sống thêm không tiến triển (progression-free survival - PFS) của nhóm bệnh nhân này là 19.6 tháng. Đánh giá về an toàn cho thấy rằng 71% số bệnh nhân gặp nhiễm trùng, 42.6% gặp chảy máu và 32.5% bị giảm bạch cầu. Chỉ có 9 bệnh nhân ngừng điều trị do gặp phải tác dụng phụ. Hiện nay, các cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đang tiếp tục tiến hành để nhằm hiểu rõ hơn về hiệu quả lâm sàng và tính an toàn của Pirtobrutinib so với nhóm giả dược và các phương án điều trị khác.