Điều trị viêm gan siêu vi D mãn tính với chất ức chế sản xuất mật Bulevirtide
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 02 tháng 8 năm 2023
|
Việc xâm nhập và lây nhiễm tế bào gan đòi hỏi virus viêm gan D (HDV) phải tận dụng được kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBsAg). Từ đó, nguy cơ mắc cùng lúc virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan D tăng cao, và gia tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Mặc dù, đã có nhiều cách kiềm chế sự phát triển của virus viêm gan B, hiện tại vẫn chưa có phương pháp điều trị virus viêm gan D nào được chấp thuận. Ngoài HBsAg, virus viêm gan D còn sử dụng peptit đồng vận chuyển sodium taurocholate (NTCP) để xâm nhập vào tế bào gan. Trong bối cảnh này, Bulevirtide - một chất ức chế NTCP - đã được thử nghiệm để đánh giá tiềm năng lâm sàng trong việc điều trị nhiễm virus viêm gan D.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã tiến hành trên 150 bệnh nhân mắc bệnh viêm gan D mãn tính trong vòng ít nhất 6 tháng trước khi tham gia. Chẩn đoán được xác định dựa trên kết quả xét nghiệm kháng thể anti-HDV hoặc xét nghiệm PCR cho RNA HDV. Những bệnh nhân này được ngẫu nhiên phân thành ba nhóm, một nhóm nhận giả dược và hai nhóm khác nhau sử dụng bulevirtide theo hai trình liều khác nhau. Trong 2 nhóm sử dụng bulevirtide, một nhóm nhận tiêm dưới da hàng ngày 2 mg bulevirtide, trong khi nhóm còn lại được tiêm dưới da 10 mg bulevirtide mỗi ngày. Sau 48 tuần điều trị, cả hai liều bulevirtide đều giúp giảm alanine transaminase về mức bình thường và làm giảm đáng kể mức HDV RNA ở khoảng một nửa số bệnh nhân. Trong khi đó, chỉ có 2% trong nhóm giả dược đạt được kết quả lâm sàng tương tự. Tuy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ phản ứng phụ giữa hai liều bulevirtide, nhưng những bệnh nhân sử dụng bulevirtide báo cáo có nhiều trường hợp nhức đầu, mệt mỏi, đau bụng vùng trên và đau khớp hơn so với nhóm giả dược. Đáng chú ý, việc sử dụng bulevirtide ảnh hưởng đến mức acid mật khác nhau phụ thuộc vào liều lượng sử dụng; nguyên nhân là do NTCP có chức năng hỗ trợ vận chuyển acid mật.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã tiến hành trên 150 bệnh nhân mắc bệnh viêm gan D mãn tính trong vòng ít nhất 6 tháng trước khi tham gia. Chẩn đoán được xác định dựa trên kết quả xét nghiệm kháng thể anti-HDV hoặc xét nghiệm PCR cho RNA HDV. Những bệnh nhân này được ngẫu nhiên phân thành ba nhóm, một nhóm nhận giả dược và hai nhóm khác nhau sử dụng bulevirtide theo hai trình liều khác nhau. Trong 2 nhóm sử dụng bulevirtide, một nhóm nhận tiêm dưới da hàng ngày 2 mg bulevirtide, trong khi nhóm còn lại được tiêm dưới da 10 mg bulevirtide mỗi ngày. Sau 48 tuần điều trị, cả hai liều bulevirtide đều giúp giảm alanine transaminase về mức bình thường và làm giảm đáng kể mức HDV RNA ở khoảng một nửa số bệnh nhân. Trong khi đó, chỉ có 2% trong nhóm giả dược đạt được kết quả lâm sàng tương tự. Tuy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ phản ứng phụ giữa hai liều bulevirtide, nhưng những bệnh nhân sử dụng bulevirtide báo cáo có nhiều trường hợp nhức đầu, mệt mỏi, đau bụng vùng trên và đau khớp hơn so với nhóm giả dược. Đáng chú ý, việc sử dụng bulevirtide ảnh hưởng đến mức acid mật khác nhau phụ thuộc vào liều lượng sử dụng; nguyên nhân là do NTCP có chức năng hỗ trợ vận chuyển acid mật.