Sử dụng kháng thể chống IL-23, mirikizumab, để điều trị viêm loét đại tràng
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 31 tháng 7 năm 2023
|
Do hiệu ứng gây viêm của IL-23 trong viêm loét đại tràng, các dược phẩm có tính ức chế IL-23 đã được thử nghiệm và sử dụng tại Hoa Kỳ. IL-23 bao gồm hai đơn vị riêng biệt: p40 và p19, tồn tại duy nhất cho IL-23. Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 trước đó đã khẳng định tiềm năng của Mirikizumab - một loại kháng thể nhắm vào đơn vị p19 của IL-23. Do đó, công ty dược phẩm Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 để đánh giá độ hiệu quả và an toàn của Mirikizumab trong điều trị viêm đại tràng loét.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã tập trung vào việc thử nghiệm Mirikizumab trên 1281 bệnh nhân mắc chứng viêm đại tràng loét từ trung bình đến nặng (đánh giá dựa trên thang điểm Mayo phù hợp) kết hợp với việc tiến hành các xét nghiệm nội soi và mô bệnh bổ sung. Những bệnh nhân này không phù hợp hoặc không đáp ứng tốt với hoạt chất glucocorticoid hoặc các liệu trình điều trị điều chỉnh hệ miễn dịch. Những người tham gia được ngẫu nhiên chia thành hai nhóm: nhóm nhận giả dược và nhóm nhận Mirikizumab tiêm tĩnh mạch với liều 300 mg mỗi 4 tuần. Sau 12 tuần điều trị, nhóm sử dụng Mirikizumab có tỷ lệ bệnh nhân đạt được mức hồi phục lâm sàng cao hơn so với nhóm giả dược. Những bệnh nhân có phản ứng tích cực với Mirikizumab đã được mời tham gia vào cuộc thử nghiệm tiếp theo nhằm kiểm tra khả năng duy trì của thuốc. Trong cuộc thử nghiệm này, nhóm bệnh nhân trên tiếp tục được ngẫu nhiên chia thành hai nhóm: một nhóm tiêm giả dược dưới da và một nhóm tiêm định kỳ dưới da 200 mg Mirikizumab mỗi 4 tuần. Đáng chú ý, sau 40 tuần, hơn một nửa số người được điều trị bằng Mirikizumab đạt mức hồi phục lâm sàng, trong khi chỉ có một phần tư trong nhóm giả dược có cải thiện đáng kể. Xét về độ an toàn, nhóm dùng Mirikizumab báo cáo tỷ lệ cao hơn về viêm mũi họng và đau khớp so với nhóm giả dược. Những kết quả khả quan này cho thấy tiềm năng hiệu quả của Mirikizumab trong việc điều trị viêm loét đại tràng, đặc biệt là việc đạt được hồi sức lâm sàng. Tuy nhiên, cần tiến hành thêm các nghiên cứu để so sánh sự hiệu quả và an toàn của Mirikizumab với các phương pháp điều trị đang được chấp thuận, chẳng hạn như ustekinumab và risankizumab, trong việc kiểm soát bệnh viêm đại tràng loét.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã tập trung vào việc thử nghiệm Mirikizumab trên 1281 bệnh nhân mắc chứng viêm đại tràng loét từ trung bình đến nặng (đánh giá dựa trên thang điểm Mayo phù hợp) kết hợp với việc tiến hành các xét nghiệm nội soi và mô bệnh bổ sung. Những bệnh nhân này không phù hợp hoặc không đáp ứng tốt với hoạt chất glucocorticoid hoặc các liệu trình điều trị điều chỉnh hệ miễn dịch. Những người tham gia được ngẫu nhiên chia thành hai nhóm: nhóm nhận giả dược và nhóm nhận Mirikizumab tiêm tĩnh mạch với liều 300 mg mỗi 4 tuần. Sau 12 tuần điều trị, nhóm sử dụng Mirikizumab có tỷ lệ bệnh nhân đạt được mức hồi phục lâm sàng cao hơn so với nhóm giả dược. Những bệnh nhân có phản ứng tích cực với Mirikizumab đã được mời tham gia vào cuộc thử nghiệm tiếp theo nhằm kiểm tra khả năng duy trì của thuốc. Trong cuộc thử nghiệm này, nhóm bệnh nhân trên tiếp tục được ngẫu nhiên chia thành hai nhóm: một nhóm tiêm giả dược dưới da và một nhóm tiêm định kỳ dưới da 200 mg Mirikizumab mỗi 4 tuần. Đáng chú ý, sau 40 tuần, hơn một nửa số người được điều trị bằng Mirikizumab đạt mức hồi phục lâm sàng, trong khi chỉ có một phần tư trong nhóm giả dược có cải thiện đáng kể. Xét về độ an toàn, nhóm dùng Mirikizumab báo cáo tỷ lệ cao hơn về viêm mũi họng và đau khớp so với nhóm giả dược. Những kết quả khả quan này cho thấy tiềm năng hiệu quả của Mirikizumab trong việc điều trị viêm loét đại tràng, đặc biệt là việc đạt được hồi sức lâm sàng. Tuy nhiên, cần tiến hành thêm các nghiên cứu để so sánh sự hiệu quả và an toàn của Mirikizumab với các phương pháp điều trị đang được chấp thuận, chẳng hạn như ustekinumab và risankizumab, trong việc kiểm soát bệnh viêm đại tràng loét.