​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Sử dụng kháng thể dostarlimab để chữa trị ung thư nội mạc tử vong

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM 
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA
Đăng vào ngày 10 tháng 7 năm 2023
Picture

Liệu trình hóa trị kết hợp giữa carboplatin và paclitaxel là phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư nội mạc tử cung, tuy nhiên, kết quả lâu dài của chúng tương đối kém. Dostarlimab là một kháng thể đơn dòng có thể bám vào và trung hòa các khối u nội mạc có nhiều các thụ thể PD-1. Để am hiểu sâu hơn về phương pháp điều trị ung thư, công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá độ hiệu quả và an toàn của dostarlimab như một liệu pháp miễn dịch chống lại bệnh ung thư nội mạc tử cung.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 494 người tham gia đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư nội mạc tử cung giai đoạn III và IV dựa trên các tiêu chuẩn do Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế (International Federation of Gynecology and Obstetrics) đặt ra. Độ tuổi trung bình của những bệnh nhân tham gia nghiên cứu là khoảng 64 tuổi và khoảng một nửa trong số họ đang mắc bệnh ung thư tái phát. Sinh thiết được thực hiện và mẫu sinh học cơ chế sửa chữa đột biến không phù hợp của khối u được phân tích và khoảng một phần tư số bệnh nhân thiếu hụt cơ chế này: (Tiếng anh: Deficient Mismatch Repair (dMMR)). Bởi vì chỉ các khối u dMMR có nhiều PD-1 hơn bình thường, phân tích phân tầng đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của dostarlimab ở những bệnh nhân bị thiếu hụt (dMMR) và các bệnh nhân có cơ chế sửa chữa đột biến (Tiếng anh: Proficient Mismatch Repair Mechanisms (pMMR)). Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận 500 mg dostarlimab hoặc giả dược ngoài hóa trị liệu tiêu chuẩn của carboplatin và paclitaxel. Các hoạt chất vừa được nêu trên, được truyền qua tĩnh mạch trong chu kỳ 3 tuần; sau 6 chu kỳ, liều lượng được tăng lên 1000 mg mỗi 6 tuần. Phác đồ điều trị này được tiếp tục trong 3 năm, ngoại trừ các trường hợp bệnh nhân phải rút khỏi nghiên cứu, ví dụ như tình trạng bệnh của họ trở nên trầm trọng hơn. Sau 24 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu kết luận rằng dostarlimab làm giảm 36% nguy cơ phát triển khối u hoặc tử vong ở tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu khi so sánh với giả dược. Độ hiệu quả của dostarlimab cao hơn đáng kể ở các bệnh nhân có khối u dMMR; nguy cơ tiến triển khối u hoặc tử vong đã giảm 72%. Liên quan đến độ an toàn của dostarlimab, tỷ lệ các tác dụng phụ tương tự nhau giữa hai nhóm, trong đó rụng tóc và mệt mỏi thường được báo cáo nhiều nhất. Mặc dù có sự tương đồng về tần suất giữa hai nhóm, tuy nhiên, các tác dụng phụ được báo cáo bởi những bệnh nhân được điều trị bằng dostarlimab nghiêm trọng hơn đáng kể.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues