Kết hợp trifluridine, tipiracil với bevacizumab để điều trị ung thư ruột già di căn kháng trị
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi
|
Đăng vào ngày 31 tháng 5 năm 2023
|
Sau lần đầu tiên được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng di căn, bệnh nhân thường sẽ được điều trị bằng nhiều loại hóa trị. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này vẫn không mang lại sự hiệu quả ở một số bệnh nhân; những trường hợp này được xem là ung thư kháng trị. Sự kết hợp giữa trifluridine và tipiracil đã được chứng minh là một công cụ hữu ích để điều trị ung thư đại trực tràng di căn. Bevacizumab, một chất ức chế VEGF, là một liệu pháp khác có lợi ích lâm sàng rõ ràng trong việc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của việc kết hợp bevacizumab với trifluridine và tipiracil trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn kháng trị.
Một nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện, bao gồm 246 bệnh nhân trưởng thành được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến không thể cắt bỏ ở đại tràng hoặc trực tràng. Trước đây họ đã được điều trị bằng hai trong số các hóa trị liệu sau: fluoropyrimidine, irinotecan, oxaliplatin, kháng thể đơn dòng kháng VEGF, kháng thể đơn dòng kháng EGFR. Độ tuổi trung bình của những người tham gia thử nghiệm là từ 62 đến 64 tuổi và họ được phân tầng theo tình trạng đột biến RAS và thời gian mắc bệnh của họ. Những bệnh nhân này được chỉ định ngẫu nhiên để nhận trifluridine-tipiracil đường uống với liều 35 mg trên một mét vuông diện tích bề mặt cơ thể hai lần một ngày hoặc điều trị bằng trifluridine-tipiracil với bevacizumab tiêm tĩnh mạch với liều 5 mg trên mỗi kg trọng lượng cơ thể. Việc điều trị được thực hiện theo chu kỳ 28 ngày; trifluridine-tipiracil từ ngày 1 đến ngày 5 và qua ngày 8 đến ngày 12; bevacizumab được truyền vào ngày 1 và ngày 15. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thời gian sống sót trung bình ở những người được điều trị bằng sự kết hợp trifluridine-tipiracil và bevacizumab là 10,8 tháng; thời gian này dài hơn đáng kể so với 7,5 tháng của nhóm trifluridine-tipiracil. Điều này có nghĩa là sự kết hợp giữa trifluridine-tipiracil và bevacizumab giúp giảm 39% nguy cơ tử vong. Ngoài ra, sự kết hợp giúp trì hoãn đáng kể sự tiến triển của bệnh. Bệnh nhân được điều trị bằng sự kết hợp giữa trifluridine-tipiracil và bevacizumab có nguy cơ phát triển khối u thấp hơn 56% so với những bệnh nhân của họ.
Lợi ích lâm sàng của điều trị kết hợp có thể được giải thích bằng tác dụng gây độc tế bào của chất tương tự axit nucleic, trifluridine, giúp ngăn chặn sự tăng sinh và loại bỏ các tế bào khối u. Tipiracil đóng vai trò là chất ức chế thymidine phosphorylase làm tăng thời gian bán hủy sinh học của trifluridine. Ngoài ra, chất ức chế VEGF, bevacizumab, ngăn chặn hiệu ứng hình thành mạch sẽ làm giảm sự di căn của các tế bào khối u. Mặc dù tác dụng bổ sung của bevacizumab, không có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng phụ giữa hai nhóm điều trị. Giảm bạch cầu trung tính, buồn nôn và thiếu máu là những sự kiện được báo cáo thường xuyên nhất.
Một nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện, bao gồm 246 bệnh nhân trưởng thành được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến không thể cắt bỏ ở đại tràng hoặc trực tràng. Trước đây họ đã được điều trị bằng hai trong số các hóa trị liệu sau: fluoropyrimidine, irinotecan, oxaliplatin, kháng thể đơn dòng kháng VEGF, kháng thể đơn dòng kháng EGFR. Độ tuổi trung bình của những người tham gia thử nghiệm là từ 62 đến 64 tuổi và họ được phân tầng theo tình trạng đột biến RAS và thời gian mắc bệnh của họ. Những bệnh nhân này được chỉ định ngẫu nhiên để nhận trifluridine-tipiracil đường uống với liều 35 mg trên một mét vuông diện tích bề mặt cơ thể hai lần một ngày hoặc điều trị bằng trifluridine-tipiracil với bevacizumab tiêm tĩnh mạch với liều 5 mg trên mỗi kg trọng lượng cơ thể. Việc điều trị được thực hiện theo chu kỳ 28 ngày; trifluridine-tipiracil từ ngày 1 đến ngày 5 và qua ngày 8 đến ngày 12; bevacizumab được truyền vào ngày 1 và ngày 15. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thời gian sống sót trung bình ở những người được điều trị bằng sự kết hợp trifluridine-tipiracil và bevacizumab là 10,8 tháng; thời gian này dài hơn đáng kể so với 7,5 tháng của nhóm trifluridine-tipiracil. Điều này có nghĩa là sự kết hợp giữa trifluridine-tipiracil và bevacizumab giúp giảm 39% nguy cơ tử vong. Ngoài ra, sự kết hợp giúp trì hoãn đáng kể sự tiến triển của bệnh. Bệnh nhân được điều trị bằng sự kết hợp giữa trifluridine-tipiracil và bevacizumab có nguy cơ phát triển khối u thấp hơn 56% so với những bệnh nhân của họ.
Lợi ích lâm sàng của điều trị kết hợp có thể được giải thích bằng tác dụng gây độc tế bào của chất tương tự axit nucleic, trifluridine, giúp ngăn chặn sự tăng sinh và loại bỏ các tế bào khối u. Tipiracil đóng vai trò là chất ức chế thymidine phosphorylase làm tăng thời gian bán hủy sinh học của trifluridine. Ngoài ra, chất ức chế VEGF, bevacizumab, ngăn chặn hiệu ứng hình thành mạch sẽ làm giảm sự di căn của các tế bào khối u. Mặc dù tác dụng bổ sung của bevacizumab, không có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng phụ giữa hai nhóm điều trị. Giảm bạch cầu trung tính, buồn nôn và thiếu máu là những sự kiện được báo cáo thường xuyên nhất.