​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

So sánh việc sử dụng aspirin và heparin trong việc phòng đông máu ở các bệnh nhân bị nứt xương

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 1 tháng 2 năm 2023
Picture

Các bệnh nhân bị chấn thương xương khớp có nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch cao. Heparin được khuyến cáo để phòng chống đông máu ở các bệnh nhân bị nứt xương. Một số nghiên cứu gần đây tìm thấy rằng aspirin có khả năng làm tan huyết khối tốt với ít phản ứng phụ ở các bệnh nhân phẫu thuật xương khớp. Nhưng hiện tại vẫn đang thiếu nghiên cứu so sánh tính hiệu quả của aspirin với heparin. Tổ chức METRC đã công bố kết quả nghiên cứu so sánh 2 loại thuốc chống đông máu trên.

Nghiên cứu lâm sàng bao gồm 12,211 bệnh nhân đã bị chấn thương nứt xương ở hông, tay và chân. Phân nữa các bệnh nhân được tiêm dưới da 30 mg enoxaparin, 2 lần 1 ngày. Các bệnh nhân khác được dùng 81 mg aspirin, 2 lần 1 ngày. Khoảng thời gian điều trị tùy thuộc vào mức độ hồi phục của từng bệnh nhân, và nhóm nghiên cứu theo dõi tình trạng sức khỏe của họ trong vòng 90 ngày sau khi tham gia nghiên cứu. Tỉ lệ tử vong ở nhóm dùng aspirin tương đương với nhóm dùng heparin, 0.78% và 0.73%. Bởi vì nghiên cứu không bao gồm nhóm điều trị với giả dược, chúng ta không thể kết luận rằng heparin hoặc aspirin có khả năng ngăn ngừa tử vong hiệu quả. Nhưng khi so sánh về rủi ro ngăn ngừa việc hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu, aspirin không hiệu quả bằng heparin. Ngoài ra, nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt giữa hai loại thuốc trong việc ngăn ngừa thuyên tắc động mạch phổi. Về tính an toàn, rủi ro tác dụng phụ ở dạng chảy máu, biến chứng ở vết thương, và nhiễm trùng tương đối thấp và tương đương ở hai nhóm điều trị. Bởi vì aspirin có thể được sử dụng ở dạng viên uống, và heparin phải được tiêm dưới da, aspirin có thể được sử dụng dễ dàng hơn và tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn. Thêm vào đó, aspirin có thể được sử dụng ngoại trú khi bệnh nhân đã được xuất viện và đã được điều trị với heparin.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues