​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Upadacitinib và Dupilumab trong việc điều trị viêm da dị ứng

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM. 
Đăng vào ngày 2 tháng 11 năm 2022
Picture

Interleukin-4 là tín hiệu chủ đạo trong bệnh viêm da dị ứng. Vì thế, kháng thể dupilumab, với khả năng ức chế thụ thể IL-4 có thể được sử dụng để điều trị. Nhưng do tính hiệu quả thấp, các loại thuốc khác như upadacitinib đang được nghiên cứu để thay thế. Thuốc có tầm hoạt động rộng hơn do khả năng ức chế protein JAK và đang được sử dụng trong việc chữa trị bệnh viêm thấp khớp. Một nghiên cứu so sánh giữa hai loại thuốc đã công bố kết quả trên tạp chí y học Journal of the American Medical Society - Dermatology.

Cuộc nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 692 bệnh nhân từ 18 tới 75 tuổi đã được chẩn đoán với bệnh viêm da dị ứng dạng vừa tới nặng. Cụ thể hơn, hơn 10% diện tích cơ thể của bệnh nhân bị ảnh hưởng; độ nặng của dị ứng  hơn 16 điểm trên thang Eczema Area and Severity Index [EASI]; độ ngứa cao hơn 4 trên thang Worst Pruritus Numerical Rating Scale [NRS]. Thêm vào đó việc điều trị ngoài da không hiệu quả với các bệnh nhân này. Nghiên cứu được chia thành 2 nhóm điều trị sử dụng upadacitinib 30 mg hoặc dupilumab 300 mg vòng 24 tuần. Nhóm dùng upadactinib được dùng thuốc mỗi ngày dạng viên. Dupilumab được tiêm tĩnh mạch với liều 600 mg khi bệnh nhân mới tham gia nghiên cứu và liều 300 mg mỗi 2 tuần từ tuần thứ 2 tới 22. Nghiên cứu báo cáo rằng upadacitinib hiệu quả hơn dupilumab trong việc giúp giảm 75% điểm Eczema Area and Severity Index (EASI75) vào tuấn thứ 16. Tốc độ hoạt động của upadacitinib cũng nhanh hơn vì tỷ lệ số lượng bệnh nhân trong nhóm đạt được EASI75 cao hơn nhóm dùng dupilumab vào tuần thứ 2. Sức hoạt động cao hơn của upadacitinib còn được kiểm chứng ở những thang điểm khác: upadacitinib giúp giảm độ ngứa đo bằng thang Worst Pruritus Numerical Rating Scale [NRS] nhanh hơn và hết bị ảnh hưởng ngoài da đo bằng  tiêu chuẩn EASI100 hiệu quả hơn. Bởi vì upadactinib có thể dùng dạng viên và dupilumab cần phải tiêm tĩnh mạch, việc dùng upadacitinib dễ dàng hơn và việc tuân thủ sử dụng thuốc sẽ chặt chẽ hơn. Nhưng do tầm hoạt động của thuốc rộng hơn, tần suất phản ứng phụ của nhóm dùng upadacitinib cao hơn, với rủ roi nhiễm viêm nhiễm như mụn và nhiễm virus herpes zoster gia tăng. Nhóm dùng dupilumab báo cáo gia tăng rủi ro ảnh hưởng tại khu vực tiêm và viêm màng kết mắt.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues