Kết hợp Cefepime & Enmetazobactam hiệu quả hơn Piperacillin & Tazobactam trong việc điều trị nhiễm khuẩn đường tiểu và viêm thận cấp
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 7 tháng 10 năm 2022
|
Để đối phó với tình trạng đề kháng kháng sinh thuộc nhóm β-lactam, thuốc ức chế β-lactam thường được dùng kèm. Kháng sinh piperacillin thường được dùng kèm với tazobactam để chữa trị các trường hợp nhiễm trùng nặng như nhiễm khuẩn đường tiểu và viêm thận cấp. Như do tình trạng đề kháng kháng sinh, sự hiệu quả của các loại thuốc khác cần được khảo sát. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association đã so sánh sự phối hợp thuốc trên với Cefepime và Enmetazobactam.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 1,034 bệnh nhân đã được chẩn đoán với nhiễm khuẩn đường tiểu và viêm thận. Tình trạng này bị gây ra bởi vi khuẩn gram âm, và các bệnh nhân này có lượng vi khuẩn trên 105 CFU/mL trong nước tiểu. Các bệnh nhân được phân vào nhóm khảo sát sử dụng 2.0 g cefepime và 0.5 g enmetazobactam hoặc nhóm so sánh sử dụng 4.0 g piperacillin và 0.5 g tazobactam. Liệu trình thuốc kéo dài ít nhất 7 ngày và nhiều nhất là 14 ngày.
Nghiên cứu báo cáo rằng 2 nhóm thuốc điều hiệu quả trong việc chữa trị lâm sàng. Nhưng, liệu trình kết hợp cefepime và enmetazobactam 21.2% hiệu quả hơn trong việc giảm lượng vi khuẩn dưới 103 CFU/mL và 19.0% hơn trong việc diệt hết vi khuẩn sau 14 ngày. Nghiên cứu kết luận rằng nhóm thuốc khảo sát có độ hiệu quả cao hơn việc kết hợp piperacillin và tazobactam. Về độ an toàn, tần suất tác dụng phụ tương đương giữa hai nhóm, và các tác dụng phụ này tương đối nhẹ: lượng men gan (alanine aminotransferase & aspartate aminotransferase) cao và lượng bilirubin trong máu cao. Vì vậy, tỷ lệ bệnh nhân ngừng dùng thuốc do tác dụng phụ do tác dụng phụ tương đương với nhau.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 1,034 bệnh nhân đã được chẩn đoán với nhiễm khuẩn đường tiểu và viêm thận. Tình trạng này bị gây ra bởi vi khuẩn gram âm, và các bệnh nhân này có lượng vi khuẩn trên 105 CFU/mL trong nước tiểu. Các bệnh nhân được phân vào nhóm khảo sát sử dụng 2.0 g cefepime và 0.5 g enmetazobactam hoặc nhóm so sánh sử dụng 4.0 g piperacillin và 0.5 g tazobactam. Liệu trình thuốc kéo dài ít nhất 7 ngày và nhiều nhất là 14 ngày.
Nghiên cứu báo cáo rằng 2 nhóm thuốc điều hiệu quả trong việc chữa trị lâm sàng. Nhưng, liệu trình kết hợp cefepime và enmetazobactam 21.2% hiệu quả hơn trong việc giảm lượng vi khuẩn dưới 103 CFU/mL và 19.0% hơn trong việc diệt hết vi khuẩn sau 14 ngày. Nghiên cứu kết luận rằng nhóm thuốc khảo sát có độ hiệu quả cao hơn việc kết hợp piperacillin và tazobactam. Về độ an toàn, tần suất tác dụng phụ tương đương giữa hai nhóm, và các tác dụng phụ này tương đối nhẹ: lượng men gan (alanine aminotransferase & aspartate aminotransferase) cao và lượng bilirubin trong máu cao. Vì vậy, tỷ lệ bệnh nhân ngừng dùng thuốc do tác dụng phụ do tác dụng phụ tương đương với nhau.