So sánh sự hiệu quả của 4 loại thuốc tiểu đường loại 2
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 23 tháng 9 năm 2022
|
Để điều trị bệnh tiểu đường loại 2, bộ Y Tế Việt Nam khuyến cáo sử dụng metformin, insulin, sulfonylurea, thuốc ức chế dipeptidyl peptidase 4, và thuốc chủ vận thụ thể glucagon-like peptide-1. Phác đồ điều trị khuyến cáo bác sĩ cân nhắc về tính chống chỉ định của từng loại thuốc trong việc chọn phương thức điều trị, nhưng văn bản không đưa thông tin về sự hiệu quả của từng loại thuốc. Một nghiên cứu xuất bản bởi cuộc điều tra đa trung tâm GRADE báo cáo về sự hiểu quả của các nhóm thuốc trên trong việc điều trị bệnh tiểu đường loại 2.
Nghiên cứu bao gồm 5,047 bệnh nhân đã bị đái tháo đường tuýp 2 với khoảng thời gian trung bình là 4.2 ± 2.7 năm với mật độ Hb1Ac từ 6.8% và 8.5%. Đa số bệnh nhân (92.3%) đang sử dụng trên 2,000 mg metformin mỗi ngày và liều trung bình là 1,944 ± 205 mg. Các bệnh nhân được cho sử dụng 1 trong các loại thuốc sau kèm với liều metformin hiện tại:
Nghiên cứu tìm thấy rằng, giữa bốn nhóm thuốc, glargine và liraglutide có tính hiệu quả cao nhất trong việc giúp bệnh nhân đạt được lượng Hb1Ac dưới 7.0%. Glimepiride không hiệu quả bằng insulin và GLP-1 RA, nhưng tốt hơn sitagliptin. Về vấn đề an toàn, tỷ lệ phản ứng phụ tương đương giữa 4 nhóm. Biến chứng hạ đường huyết dạng nặng tương đối hiếm trong các bệnh nhân (0.7% tới 1.3%), nhưng tỷ lệ trong nhóm dùng glimepiride (2.2%) cao hơn các loại thuốc khác. Nhóm dùng liraglutide báo cáo tần suất ảnh hưởng của thuốc lên tiêu hóa (43.7%) cao hơn ba loại thuốc còn lại (33.7% tới 35.7%). Ngoài việc kiểm soát lượng Hb1Ac, liraglutide và sitagliptin giúp bệnh nhân giảm cân, giảm 3.5 kg và 2.0 kg, tốt hơn 2 loại thuốc còn lại.
Nhóm nghiên cứu cố tình không bao gồm thuốc giúp giảm glucose máu dạng thiazolidinediones và ức chế sodium-glucose cotransporter 2 (SGLT2) vì loại đầu tiên có thể gia tăng nguy cơ giảm mật độ xương và ung thư bàng quang. SGLT2 không được bao gồm vào nghiên cứu bởi vì thuốc chưa được kiểm duyệt bởi bộ Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ lúc cược điều tra bắt đầu.
Nghiên cứu bao gồm 5,047 bệnh nhân đã bị đái tháo đường tuýp 2 với khoảng thời gian trung bình là 4.2 ± 2.7 năm với mật độ Hb1Ac từ 6.8% và 8.5%. Đa số bệnh nhân (92.3%) đang sử dụng trên 2,000 mg metformin mỗi ngày và liều trung bình là 1,944 ± 205 mg. Các bệnh nhân được cho sử dụng 1 trong các loại thuốc sau kèm với liều metformin hiện tại:
- Tiêm insulin dưới dạng glargine U-100 dưới da mỗi ngày với liều tối đa là 20 U
- Uống sulfonylurea (SU) dưới dạng glimepiride mỗi ngày. Bắt đầu với 1-2 mg và tăng liều lên tới 8 mg tối đa
- Uống liraglutide, thuốc chủ vận thụ thể glucagon-like peptide-1 (GLP-1 RA), mỗi ngày. Bắt đầu với 0.6 mg và tăng liều tới 1.8 mg tối đa
- Uống sitagliptin, thuốc ức chế dipeptidyl peptidase 4, mỗi ngày với liều tối đa là 100 mg
Nghiên cứu tìm thấy rằng, giữa bốn nhóm thuốc, glargine và liraglutide có tính hiệu quả cao nhất trong việc giúp bệnh nhân đạt được lượng Hb1Ac dưới 7.0%. Glimepiride không hiệu quả bằng insulin và GLP-1 RA, nhưng tốt hơn sitagliptin. Về vấn đề an toàn, tỷ lệ phản ứng phụ tương đương giữa 4 nhóm. Biến chứng hạ đường huyết dạng nặng tương đối hiếm trong các bệnh nhân (0.7% tới 1.3%), nhưng tỷ lệ trong nhóm dùng glimepiride (2.2%) cao hơn các loại thuốc khác. Nhóm dùng liraglutide báo cáo tần suất ảnh hưởng của thuốc lên tiêu hóa (43.7%) cao hơn ba loại thuốc còn lại (33.7% tới 35.7%). Ngoài việc kiểm soát lượng Hb1Ac, liraglutide và sitagliptin giúp bệnh nhân giảm cân, giảm 3.5 kg và 2.0 kg, tốt hơn 2 loại thuốc còn lại.
Nhóm nghiên cứu cố tình không bao gồm thuốc giúp giảm glucose máu dạng thiazolidinediones và ức chế sodium-glucose cotransporter 2 (SGLT2) vì loại đầu tiên có thể gia tăng nguy cơ giảm mật độ xương và ung thư bàng quang. SGLT2 không được bao gồm vào nghiên cứu bởi vì thuốc chưa được kiểm duyệt bởi bộ Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ lúc cược điều tra bắt đầu.