Sự hiệu quả của Olokizumab trong việc điều trị viêm khớp dạng thấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM. Đăng vào ngày 2 tháng 9 năm 2022
Viêm khớp dạng thấp bị gây ra khi hệ miễn dịch của bệnh nhân tự tấn công các tế bào màng khớp. Cách bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp có thể sử dụng các loại thuốc có khả năng bám vào thụ thể IL-6 trên tế bào miễn dịch để làm giảm hoạt động của chúng. Nhưng hiện tại chưa có loại thuốc nào ảnh hưởng trực tiếp lên phối tử IL-6 được phê duyệt cho sử dụng. Sự hiệu quả và an toàn của Olokizumab, một loại kháng thể có khả năng bám vào IL-6, được đánh giá qua nghiên cứu này.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 kéo dài 24 tuần và bao gồm 1,648 bệnh nhân đang được sử dụng methotrexate. Các bệnh nhân được phân vào 4 nhóm một cách ngẫu nhiên để sử dụng: 1) 64 mg olokizumab mỗi 2 tuần, 2) 64 mg olokizumab mỗi 4 tuần, 3) 40 mg adalimumab (Humira, Abbvie) mỗi 2 tuần, và 4) giả dược mỗi 2 tuần. Nghiên cứu đánh giá tỷ lệ cá nhân ở mỗi nhóm đạt được chỉ tiêu ACR20 của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ:
Để đặt được chỉ tiêu ACR20, một cá nhân phải:
Bệnh nhân trong 2 nhóm sử dụng olokizumab đặt được chỉ tiêu ACR20 ở tỷ lệ tương đương với nhau: 70.3% và 71.4%. Thuốc có hiệu quả hơn nhóm dùng giả dược (44.4%), và tương đương với nhóm dùng adalimumab (66.9%). Về vấn đề an toàn, nhiễm trùng là phản ứng phụ thường được báo cáo nhất: tỷ lệ tương đương ở 4 nhóm (từ 30.2% đến 34.6%). Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng olokizumab rất an toàn và hiệu quả; tính hiệu quả của nó tương đương với adalimumab.
Nghiên cứu bao gồm 114 phụ nữ mãn kinh đã được chẩn đoán loãng xương với nguy cơ gãy xương trung bình. Ban đầu, các bệnh nhân dùng denosumab với liều 60 mg mỗi 6 tháng trong khoảng thời gian trung bình là 2 năm rưỡi. Sau đó, liều thuốc được giảm xuống 30 mg mỗi 6 tháng. Sau 2 năm theo dõi, kết quả cho thấy rằng không có sự biến đổi đáng kể về mật độ xương khoáng (BMD) trung bình. Ngoài ra thì BMD của vùng đốt sống ngang lưng còn gia tăng 3.44% và không có ca nứt gãy xương nào được báo cáo trong khoảng thời gian quan sát của nghiên cứu.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 kéo dài 24 tuần và bao gồm 1,648 bệnh nhân đang được sử dụng methotrexate. Các bệnh nhân được phân vào 4 nhóm một cách ngẫu nhiên để sử dụng: 1) 64 mg olokizumab mỗi 2 tuần, 2) 64 mg olokizumab mỗi 4 tuần, 3) 40 mg adalimumab (Humira, Abbvie) mỗi 2 tuần, và 4) giả dược mỗi 2 tuần. Nghiên cứu đánh giá tỷ lệ cá nhân ở mỗi nhóm đạt được chỉ tiêu ACR20 của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ:
Để đặt được chỉ tiêu ACR20, một cá nhân phải:
- Giảm đau và sưng khớp ≥20%
- Cải thiện ≥20% ở 3 trong 5 yếu tố sau:
- Đánh giá của bệnh nhân về tình trạng đau
- Đánh giá của bệnh nhân về tình trạng bệnh
- Đánh giá của bệnh nhân về khả năng vận động
- Đánh giá của bác sĩ về khả năng vận động
- Gía trị C-Reactive Protein
- Đánh giá của bệnh nhân về tình trạng đau
Bệnh nhân trong 2 nhóm sử dụng olokizumab đặt được chỉ tiêu ACR20 ở tỷ lệ tương đương với nhau: 70.3% và 71.4%. Thuốc có hiệu quả hơn nhóm dùng giả dược (44.4%), và tương đương với nhóm dùng adalimumab (66.9%). Về vấn đề an toàn, nhiễm trùng là phản ứng phụ thường được báo cáo nhất: tỷ lệ tương đương ở 4 nhóm (từ 30.2% đến 34.6%). Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng olokizumab rất an toàn và hiệu quả; tính hiệu quả của nó tương đương với adalimumab.
Nghiên cứu bao gồm 114 phụ nữ mãn kinh đã được chẩn đoán loãng xương với nguy cơ gãy xương trung bình. Ban đầu, các bệnh nhân dùng denosumab với liều 60 mg mỗi 6 tháng trong khoảng thời gian trung bình là 2 năm rưỡi. Sau đó, liều thuốc được giảm xuống 30 mg mỗi 6 tháng. Sau 2 năm theo dõi, kết quả cho thấy rằng không có sự biến đổi đáng kể về mật độ xương khoáng (BMD) trung bình. Ngoài ra thì BMD của vùng đốt sống ngang lưng còn gia tăng 3.44% và không có ca nứt gãy xương nào được báo cáo trong khoảng thời gian quan sát của nghiên cứu.