Sự ảnh hưởng tiêu cực của Rosuvastatin lên chức năng thận
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM. Đăng vào ngày 22 tháng 7 năm 2022
Rosuvastatin and Atorvastatin là 2 loại thuốc mang tính chất ức chế enzyme hydroxymethylglutaryl-coenzyme A (HMG-CoA) reductase. Thuốc thường được kê toa để chữa trị bệnh tăng lipid máu, bệnh tăng cholesterol máu và dùng để phòng ngừa các bệnh tim mạch. Cách thuốc trong nhóm statin này được bán trong thị trường Việt Nam với tên gọi gốc của thành phần hoạt tính hoặc với nhãn hiệu đặc trưng của nhà sản xuất. Rosuvastatin là thành phần hoạt tính của thuốc có nhãn hiệu Perosu, Crestor, Liporosa, Rostor và Robinul. Atorvastatin được bán với thuốc có nhãn hiệu Lipirus, Lipistad, Lipitor, Safena, Atorlip, Shintovas và Vaslor. Một nghiên cứu đa trung tâm của tiến sĩ, bác sĩ Jung-Im Shin và đồng nghiệp báo cáo rằng Rosuvastatin có ảnh hưởng lớn đến chứng năng thận hơn Atorvastatin.
Nghiên cứu thuần tập hồi cứu của nhóm bao gồm dữ liệu được thu từ gần 1 triệu bệnh nhân đã sử dụng Rosuvastatin hoặc Atorvastatin trong khoảng thời gian 2011-2019. Nghiên cứu tìm thấy độ hiệu quả phòng chống nhồi máu cơ tim và đột quỵ của Rosuvastatin tương đương với Atorvastatin. Nhưng rủi rỏ huyết niệu, suy thận và protein niệu ở nhóm bệnh nhân sử dụng Rosuvastatin gia tăng khoảng 8%, 15% và 17%. Sử ảnh hưởng của Rosuvastatin tương ứng với trạng thái hoạt động của thận. Bệnh nhân với chức năng thận thấp với tốc độ lọc cầu thận dưới 30 mL/phút trên 1.73 m2 có nguy cơ huyết niệu gấp 2 lần và nguy cơ protein niệu gấp 9 lần so với bệnh nhân độ lọc cầu thận trên 60 mL/min per 1.73 m2.
Cơ chế ảnh hưởng của statin lên thận vẫn chưa rõ, nhưng chứng cứ từ nghiên cứu trong ống nghiệm có thể đã cung cấp một lời giải thích khả thi. Khi sử dụng trên tế bào thận của người và động vật, hoạt chất cản trở với hoạt động của HMG-CoA reductase ở tế bào ở ống lượn gần. Điều này dẫn đến sự ức chế quá trình hấp thu protein ở đơn vị thận. Sự khác nhau ở việc bài tiết của hoạt chất qua đường tiểu có thể là lý do của sự khác biệt ở độ ảnh hưởng lên thận. 10% của Rosuvastatin được bài tiết qua thận, nhiều hơn 1% của Atorvastatin. Sự bài tiết cao hơn qua thận gia tăng sức ảnh hưởng lên quá trình hấp thụ protein được xúc tác bởi enzyme HMG-CoA reductase.
Theo phác đồ điều trị của hiệp hội tim mạch học Hoa Kỳ và hiệp hội tim Hoa Kỳ, 40-80 mg Atorvastatin và 20-40 mg Rosuvastatin có thể sử dụng mỗi ngày để giảm 40% Lipoprotein mật độ thấp (LDL-C) trong máu. Phác đồ điều trị của bộ y tế Việt Nam cũng đưa khuyến cáo tương tự về việc sử dụng và liều lượng của Rosuvastatin và Atorvastatin. Nhưng vì sự hiệu quả của hai loại thuốc tương tự nhau, các phác đồ điều trị hiện tại nên chu ý về tác hại lên thận và nên ưu tiên sử dụng Atorvastatin cho các đối tượng có nguy cơ bị bệnh thận hoặc chức năng thận đang bị suy yếu.
Nghiên cứu thuần tập hồi cứu của nhóm bao gồm dữ liệu được thu từ gần 1 triệu bệnh nhân đã sử dụng Rosuvastatin hoặc Atorvastatin trong khoảng thời gian 2011-2019. Nghiên cứu tìm thấy độ hiệu quả phòng chống nhồi máu cơ tim và đột quỵ của Rosuvastatin tương đương với Atorvastatin. Nhưng rủi rỏ huyết niệu, suy thận và protein niệu ở nhóm bệnh nhân sử dụng Rosuvastatin gia tăng khoảng 8%, 15% và 17%. Sử ảnh hưởng của Rosuvastatin tương ứng với trạng thái hoạt động của thận. Bệnh nhân với chức năng thận thấp với tốc độ lọc cầu thận dưới 30 mL/phút trên 1.73 m2 có nguy cơ huyết niệu gấp 2 lần và nguy cơ protein niệu gấp 9 lần so với bệnh nhân độ lọc cầu thận trên 60 mL/min per 1.73 m2.
Cơ chế ảnh hưởng của statin lên thận vẫn chưa rõ, nhưng chứng cứ từ nghiên cứu trong ống nghiệm có thể đã cung cấp một lời giải thích khả thi. Khi sử dụng trên tế bào thận của người và động vật, hoạt chất cản trở với hoạt động của HMG-CoA reductase ở tế bào ở ống lượn gần. Điều này dẫn đến sự ức chế quá trình hấp thu protein ở đơn vị thận. Sự khác nhau ở việc bài tiết của hoạt chất qua đường tiểu có thể là lý do của sự khác biệt ở độ ảnh hưởng lên thận. 10% của Rosuvastatin được bài tiết qua thận, nhiều hơn 1% của Atorvastatin. Sự bài tiết cao hơn qua thận gia tăng sức ảnh hưởng lên quá trình hấp thụ protein được xúc tác bởi enzyme HMG-CoA reductase.
Theo phác đồ điều trị của hiệp hội tim mạch học Hoa Kỳ và hiệp hội tim Hoa Kỳ, 40-80 mg Atorvastatin và 20-40 mg Rosuvastatin có thể sử dụng mỗi ngày để giảm 40% Lipoprotein mật độ thấp (LDL-C) trong máu. Phác đồ điều trị của bộ y tế Việt Nam cũng đưa khuyến cáo tương tự về việc sử dụng và liều lượng của Rosuvastatin và Atorvastatin. Nhưng vì sự hiệu quả của hai loại thuốc tương tự nhau, các phác đồ điều trị hiện tại nên chu ý về tác hại lên thận và nên ưu tiên sử dụng Atorvastatin cho các đối tượng có nguy cơ bị bệnh thận hoặc chức năng thận đang bị suy yếu.