|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 9 tháng 2 năm 2026
|
|
Bệnh đa xơ cứng là một bệnh tự miễn dịch với do sự tấn công của hệ miễn dịch vào lớp vỏ myelin bao quanh các tế bào thần kinh. Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng kết quả bất lợi trong thai kỳ như sinh non, rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, v.v., có thể làm thay đổi sự phát triển của hệ miễn dịch. Theo logic này, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu ảnh hưởng của các bất thường trong thai kỳ đến nguy cơ phát triển bệnh đa xơ cứng sau này trong cuộc sống.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 2 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã phát hiện ra rằng 1 trong 10 trẻ em và thanh thiếu niên bị chứng đau nửa đầu theo cơn. Rối loạn này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe của trẻ em. Phương pháp điều trị hiện tại cho trẻ em có hiệu quả hạn chế nhưng có tác dụng phụ nghiêm trọng; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành, với sự tài trợ của công ty Teva Pharmaceuticals, để đánh giá việc sử dụng fremanezumab, một loại thuốc đã được phê duyệt cho người lớn, để điều trị chứng đau nửa đầu ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 29 tháng 10 năm 2025
|
|
Mặc dù đã có những tiến bộ gần đây trong việc kiểm soát sốt rét, căn bệnh này vẫn là một gánh nặng đáng kể, đặc biệt là ở trẻ em sống tại các quốc gia kém phát triển. Các yếu tố như tình trạng kháng thuốc diệt côn trùng và thay đổi thói quen đốt muỗi đã khiến việc lây truyền bệnh sốt rét vẫn tiếp diễn. Với sự tài trợ từ quỹ nghiên cứu Doris Duke, một dự án đã được thực hiện để tìm hiểu việc sử dụng khăn tẩm permethrin để phòng ngừa sốt rét ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 24 tháng 10 năm 2025
|
|
Nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ sơ sinh phải nhập viện, với mức độ nghiêm trọng của bệnh cao nhất ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Các nghiên cứu trước đã phát hiện ra rằng các kháng thể đơn dòng như nirsevimab và palivizumab là một biện pháp phòng ngừa nhiễm RSV ở trẻ sơ sinh hiệu quả. Với sự tài trợ của công ty dược Merck, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng clesrovimab để ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 10 năm 2025
|
|
Đối với các trường hợp trẻ em nhập viện do suy dinh dưỡng nặng, liệu pháp bù nước thường được chỉ định.Lý do liệu pháp bù nước bằng đường uống thường được ưu tiên hơn truyền tĩnh mạch vì lo ngại rằng trẻ em suy dinh dưỡng có thể bị suy giảm chức năng tim, vốn có thể bị ảnh hưởng nặng nề hơn do quá tải dịch. Tuy nhiên, khuyến nghị này dựa trên các bằng chứng hạn chế từ các nghiên cứu kéo dài hàng thập kỷ. Nhằm giải quyết khoảng trống kiến thức này, tổ chức Thử nghiệm Sức khỏe Toàn cầu đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của việc bù nước bằng đường tĩnh mạch ở trẻ em suy dinh dưỡng nặng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 24 tháng 9 năm 2025
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới và nhập viện ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Các khuyến nghị hiện tại khuyến cáo nên tiêm vắc-xin cho trẻ em sinh ra trong hoặc sắp bước vào mùa RSV đầu tiên. Tuy nhiên, việc tiêm vắc-xin không phải lúc nào cũng khả thi, điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các liệu pháp kháng vi-rút hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Shanghai Ark Biopharmaceutical tài trợ đã điều tra việc sử dụng ziresovir trong điều trị nhiễm RSV ở trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 15 tháng 9 năm 2025
|
|
Nirsevimab là một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein F mà virus hợp bào hô hấp (RSV) sử dụng để xâm nhập vào tế bào vật chủ. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh hiệu quả của thuốc trong việc ngăn ngừa nhập viện ở trẻ em, nhưng với thời gian bán hủy là 71 ngày, vẫn chưa rõ liệu hiệu quả bảo vệ có kéo dài trong suốt mùa RSV điển hình kéo dài bốn tháng hay không. Để giải quyết vấn đề này, Sanofi và AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả bảo vệ lâu dài của nirsevimab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 9 năm 2025
|
|
Trẻ sinh non thường có nguy cơ mắc các biến chứng phát triển thần kinh cao hơn đáng kể. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc kích thích sản xuất hồng cầu bằng erythropoietin có tác dụng bảo vệ thần kinh. Nhằm tìm hiểu sâu hơn về tiềm năng này, một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã đánh giá liệu darbepoetin có thể cải thiện kết quả phát triển thần kinh ở trẻ sinh non hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 8 năm 2025
|
|
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất cho trẻ nhỏ; tuy nhiên, các bé sinh non thường gặp khó khăn khi bú sữa từ mẹ. Ngoài ra, những bà mẹ sinh non có thể gặp vấn đề về sản xuất sữa. Do đó, cần phải sử dụng các phương pháp thay thế cho đến khi có thể cho con bú. Với sự tài trợ của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh việc sử dụng sữa công thức và sữa hiến tặng ở trẻ sinh non.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 18 tháng 8 năm 2025
|
|
Sốt rét là một bệnh lây truyền qua muỗi phổ biến. Bệnh có thể được kiểm soát hiệu quả bằng thuốc diệt côn trùng và sử dụng màn ngủ. Tuy nhiên, khả năng kháng thuốc diệt côn trùng và sự thích nghi hành vi của vật trung gian truyền bệnh có thể tạo ra những thách thức đáng kể đối với các biện pháp can thiệp y tế công cộng hiện nay. Với sự tài trợ của tổ chức quốc tế UNITAID, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng ivermectin để ngăn ngừa lây truyền sốt rét.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 8 tháng 8 năm 2025
|
|
Ondansetron là thuốc đối kháng thụ thể 5-hydroxytryptamine type 3 (5-HT3) thường được sử dụng để ức chế buồn nôn ở trẻ em nhập viện do viêm dạ dày ruột cấp tính. Giá trị của việc sử dụng ondansetron sau khi xuất viện vẫn chưa rõ ràng. Do đó, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của ondansetron sau khi xuất viện.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 7 năm 2025
|
|
Montelukast được sử dụng rộng rãi nhằm kiểm soát hen suyễn và viêm mũi dị ứng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Tuy nhiên, dữ liệu giám sát gần đây đã tìm thấy mối liên quan giữa việc sử dụng montelukast và tần suất các tác dụng phụ thần kinh tâm thần. Cơ chế đằng sau tác dụng này vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng đã có giả thuyết cho rằng thuốc có thể can thiệp vào trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận. Với sự tài trợ của Hiệp hội Hen suyễn và Dị ứng Thụy Điển, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng phụ thần kinh tâm thần tiềm ẩn của montelukast.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 7 năm 2025
|
|
Các kết quả sinh nở bất lợi chẳng hạn như sinh non và trẻ nhẹ cân, tiếp tục là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở nhiều nơi có nguồn lực hạn chế. Viêm nhiễm và nhiễm trùng ở mẹ—bao gồm vi khuẩn niệu và giang mai—có liên quan đến nguy cơ cao hơn của các kết quả này. Dựa trên mối liên hệ này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu do Wellcome Trust tài trợ để đánh giá liệu việc sử dụng trimethoprim–sulfamethoxazole dự phòng có thể làm giảm các rủi ro này trong thai kỳ hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 18 tháng 6 năm 2025
|
|
Các phương pháp điều trị viêm gan C có hiệu quả ở người lớn—chẳng hạn như pegylated interferon và ribavirin—có liên quan đến các biến chứng về phát triển ở trẻ em. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng thuốc kháng vi-rút, nhưng tính an toàn lâu dài của các liệu pháp này ở trẻ em vẫn chưa chắc chắn. Để giải quyết khoảng cách này, một nghiên cứu do Gilead Sciences tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả lâu dài của sofosbuvir ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 6 năm 2025
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ sơ sinh. Nirsevimab - một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein RSV F để ngăn chặn sự hợp nhất của virus, những nghiên cứu trước đây đã cho thấy hiệu quả trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng. Một nghiên cứu gần đây do AstraZeneca và Sanofi tài trợ hiện đã báo cáo về tác dụng bảo vệ lâu dài của nirsevimab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 6 năm 2025
|
|
Bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em thường biểu hiện các triệu chứng nghiêm trọng hơn và tiên lượng kém hơn so với người lớn. Mặc dù có các phương pháp điều trị chống loạn thần hiệu quả dành cho trẻ em và thanh thiếu niên, nhưng các tác nhân này có xu hướng mang lại rủi ro cao hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi. Các nghiên cứu gần đây cho thấy ngoài dopamine, các chất dẫn truyền thần kinh monoamine khác—như norepinephrine và serotonin—cũng góp phần vào bệnh sinh lý của bệnh tâm thần phân liệt. Với sự tài trợ từ Otsuka Pharmaceutical, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng brexpiprazole trong việc kiểm soát bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 3 năm 2025
|
|
Hiện nay đang có một sự đồng thuận hạn chế về việc nhiễm SARS-CoV-2 ở mẹ gây ra sự ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ nhỏ. Tương tự như vậy, tác động của việc tiêm vắc-xin COVID-19 ở người mẹ đối với sự phát triển sớm của trẻ vẫn chưa rõ ràng. Để giải quyết những khoảng trống hiểu biết này, Hội đồng nghiên cứu kinh tế và xã hội của Vương quốc Anh đã tài trợ cho một nghiên cứu cấp độ dân số để đánh giá tác động của cả nhiễm trùng ở mẹ và tiêm vắc-xin COVID-19 đối với sự phát triển của trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 3 năm 2025
|
|
Trong vài thập kỷ qua, Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể tình trạng béo phì ở trẻ em. Xu hướng này đặc biệt đáng lo ngại vì tình trạng béo phì ở trẻ em làm tăng đáng kể khả năng phát triển các biến chứng suốt đời như bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch. Để ứng phó với mối lo ngại này, Novo Nordisk đã tài trợ cho một nghiên cứu kiểm tra việc sử dụng liraglutide—một chất chủ vận thụ thể peptide 1 giống glucagon nhằm kiểm soát cân nặng ở trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 2 năm 2025
|
|
Nhiễm giun sán truyền qua đất thường được điều trị và phòng ngừa bằng một liều albendazole hoặc mebendazole duy nhất. Mặc dù các loại thuốc này có hiệu quả cao đối với các loài giun móc như Ancylostoma duodenale và Necator americanus, nhưng chúng lại kém hiệu quả hơn trong việc loại bỏ Strongyloides stercoralis và Trichuris trichiura. Để giải quyết khoảng cách này, một nghiên cứu do Liên minh Châu Âu tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của việc kết hợp albendazole với ivermectin để điều trị tất cả các bệnh nhiễm giun sán truyền qua đất chính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 1 năm 2025
|
|
Trẻ em dưới 5 tuổi đặc biệt dễ mắc các bệnh có triệu chứng sau khi tiếp xúc với Mycobacterium tuberculosis. Trong trường hợp mắc bệnh lao đa kháng thuốc (MDR), việc kiểm soát bệnh trở nên tốn kém và phức tạp hơn đáng kể. Phương pháp tiếp cận hiện tại để kiểm soát sự lây lan của bệnh lao đa kháng thuốc ở trẻ nhỏ bao gồm việc truy vết tiếp xúc trong gia đình từ những cá nhân mới được chẩn đoán mắc bệnh. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã khám phá việc sử dụng levofloxacin để ngăn ngừa sự lây truyền của vi khuẩn MDR ở trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 1 năm 2025
|
|
Streptococcus pneumoniae là tác nhân gây bệnh phổ biến gây nhiễm trùng đường hô hấp trên ở trẻ nhỏ. Nhiễm trùng có thể được ngăn ngừa thông qua tiêm chủng, với phác đồ tiêu chuẩn bao gồm 3 liều cơ bản trong giai đoạn đầu của trẻ sơ sinh hoặc 2 liều cơ bản trong vòng 6 tháng đầu, sau đó là liều tăng cường sau 9 tháng tuổi. Mặc dù cả hai lịch tiêm chủng đều đã được chứng minh là có hiệu quả, nhưng chúng có thể tốn kém, khiến các quốc gia có nguồn lực hạn chế khó có thể triển khai các chương trình tiêm chủng trên toàn quốc. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ đã được tiến hành để so sánh hiệu quả của chương trình tiêm chủng liều thấp với lịch tiêm chủng 3 liều tiêu chuẩn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 11 năm 2024
|
|
Bệnh nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) hiện nay có thể được điều trị hiệu quả bằng các kháng thể đơn dòng như palivizumab và nirsevimab. Tuy nhiên, đối với trẻ nhỏ bị chống chỉ định sử dụng kháng thể thì ribavirin là phương pháp điều trị duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt. Một phương pháp thay thế tiềm năng khác là ziresovir - một loại thuốc kháng virus có thể liên kết và ức chế protein F của RSV. Do đó, công ty Shanghai Ark Biopharmaceutical đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của ziresovir trong việc điều trị nhiễm RSV ở bệnh nhi.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 11 tháng 10 năm 2024
|
|
Để giải quyết tình trạng tử vong ở trẻ em tại các quốc gia kém phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến nghị phân phối azithromycin hai lần một năm cho trẻ em từ 1 đến 59 tháng tuổi. Tuy nhiên, lo ngại về tình trạng kháng thuốc kháng sinh gia tăng đã dẫn đến khuyến nghị sửa đổi, giới hạn can thiệp cho trẻ em từ 1 đến 11 tháng tuổi. Vì thế, Quỹ Bill & Melinda Gates đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của phác đồ ngắn hơn từ 1 đến 11 tháng này so với khuyến nghị ban đầu từ 1 đến 59 tháng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 16 tháng 9 năm 2024
|
|
Viêm da do bệnh vẩy nến được gây ra bởi interleukin 17 và tế bào T-helper 17. Mặc dù có một số phương pháp điều trị hiệu quả đã được thử nghiệm, nhưng không có nhiều lựa chọn điều trị dạng uống. Zasocitinib là một tác nhân ức chế TYK2 có thể dùng qua đường uống. Thuốc ức chế TYK2 bằng cách can thiệp vào quá trình chuyển hóa protein JAK. Một nghiên cứu do công ty dược Nimbus Discovery và Takeda tài trợ đã được tiến hành để tìm hiểu hiệu quả của zasocitinib trong việc kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 8 năm 2024
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới và viêm tiểu phế quản, ở trẻ em. Với thời gian bán hủy kéo dài trong cơ thể và khả năng diệt virus mạnh, nirsevimab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cơ quan Dược phẩm Châu u chấp thuận để sử dụng làm thuốc dự phòng trước khi phơi nhiễm với RSV vào đầu năm 2023. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả thực tế của nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhập viện do viêm tiểu phế quản liên quan đến RSV ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 21 tháng 8 năm 2024
|
|
Viêm thực quản do bạch cầu ưa acid là tình trạng viêm loại 2 do các cytokine như Interleukin-4 và Interleukin-13 gây ra. Ở trẻ em, tình trạng viêm có thể dẫn đến xơ hóa và hẹp thực quản, gây khó nuốt và ảnh hưởng đến sự phát triển. Dupilumab là kháng thể đơn dòng đã được sử dụng để điều trị hen suyễn và viêm da dị ứng bằng cách chặn đường truyền tín hiệu của IL-4 và IL-13. Do đó, Công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng của dupilumab trong việc kiểm soát viêm thực quản do bạch cầu ưa acid ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 26 tháng 6 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu trước đa chứng minh rằng việc nhiễm virus rubella, cytomegalovirus và coxsackievirus ở người mẹ trong lúc mang thai gia tăng nguy cơ dị tật tim bẩm sinh. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu điều tra về sử ảnh hưởng của vi rút viêm gan B lên sự phát triển của thai nhi. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) đã báo cáo về mối liên quan giữa viêm gan B của mẹ và dị tật tim bẩm sinh ở trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 6 năm 2024
|
|
Statin và các liệu pháp hỗ trợ hạ lipid khác thường được sử dụng để kiểm soát lipoprotein mật độ thấp (LDL-C) mang cholesterol ở bệnh nhi mắc bệnh cholesterol máu gia đình. PSCK9 đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mức LDL-C cao bằng cách phá hủy thụ thể tế bào có chức năng loại bỏ LDL-C ra khỏi máu. Alirocumab là một kháng thể có thể ức chế PSCK9 và một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá khả năng của nó trong việc thúc đẩy thanh thải LDL-C nhằm kiểm soát tình trạng tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 6 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu trước đã tìm thấy rằng việc sử dụng thuốc chống rối loạn thần kinh gia tăng nguy cơ liên quan đến các bệnh tim mạch, suy hô hấp, rối loạn chuyển hóa và tử vong ở người lớn. Hiện nay, xu hướng sử dụng thuốc chống rối loạn thần kinh thế hệ thứ 2 ngoài chỉ định ở trẻ em và thanh thiếu niên đang gia tăng. Vì thế Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia Hoa Kỳ đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của thuốc chống rối loạn thần kinh lên sức khỏe của trẻ em và thanh thiếu niên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 6 năm 2024
|
|
Sự gia tăng tỷ lệ rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) ở người lớn đồng nghĩa với việc số lượng thuốc kích thích trị rối loạn tăng động giảm chú ý được kê đơn cũng tăng lên. Tuy nhiên, có một số nghiên cứu còn hạn chế về điều tra tác dụng của những loại thuốc này đối với sự phát triển thần kinh của thai nhi. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc kích thích điều trị ADHD ở người mẹ và nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2024
|
|
Mặc dù chất lượng cuộc sống của những người bị ảnh hưởng bởi dị ứng sữa bò bị giảm đáng kể nhưng hiện tại không có biện pháp can thiệp sinh học nào được phê duyệt ngoài việc phòng tránh. Việc tiếp xúc trực tiếp với chất gây dị ứng đã được thử nghiệm như một công cụ kiểm soát dị ứng đậu phộng. Một bài nghiên cứu được xuất bản gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra việc sử dụng liệu pháp miễn dịch dưới da có chứa chất gây dị ứng sữa để kiểm soát dị ứng sữa bò ở trẻ em và thanh thiếu niên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 6 năm 2024
|
|
Trẻ sơ sinh thiếu máu do thiếu sắt là một vấn đề phổ biến trên toàn cầu và nghiêm trọng hơn ở những cộng đồng có nguồn lực hạn chế. Thiếu máu do thiếu sắt có thể cản trở sự phát triển thần kinh và gây suy giảm nhận thức cũng như các vấn đề về hành vi. Vì hàm lượng sắt trong sữa mẹ thấp nên có nhiều tranh cãi về sự cần thiết phải bổ sung sắt. Nhằm giải đáp về vấn đề này, một nghiên cứu đã được thực hiện ở Ba Lan và Thụy Điển để điều tra tác động của việc bổ sung sắt hàng ngày đối với sự phát triển nhận thức sớm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 5 năm 2024
|
|
Chứng thiểu sản xương có sự đặc trưng bởi sự kích hoạt quá mức của thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 3 (FGFR3), điều này làm gián đoạn quá trình cốt hóa nội bào. Vosoritide là một chất tương tự của peptide natriuretic loại c có thể liên kết và ức chế con đường protein kinase được hoạt hóa bằng mitogen xuôi dòng từ quá trình kích hoạt FGFR3. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Lancet đã điều tra tác dụng của Vosoritide trong việc điều trị chứng giảm sản sụn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 5 năm 2024
|
|
Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khuyến nghị về hai loại vắc-xin sốt rét - RTS,S/AS01 và R21/ Matrix-M - dành cho trẻ em. Ngoài ra, điều trị dự phòng bằng hóa chất được khuyến cáo cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị thiếu máu nặng. CIS43LS là một kháng thể đơn dòng có thể liên kết với protein Plasmodium falciparum cirsporozoite được bảo tồn và vô hiệu hóa ký sinh trùng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng CIS43LS có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng ở người lớn. Vì vậy, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CIS43LS trong việc ngăn ngừa bệnh sốt rét ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 5 năm 2024
|
|
Nguy cơ chậm phát triển, bệnh tim chuyển hóa và tử vong cao hơn đáng kể ở trẻ sinh non từ 32 đến 36 tuần. Tuy nhiên, hiện tại có một khoảng trống nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của nhóm dân số này. Vì vậy, Hội đồng Nghiên cứu Y tế New Zealand đã tài trợ một nghiên cứu để kiểm tra hiệu quả của các can thiệp hỗ trợ dinh dưỡng khác nhau đối với thành phần mỡ cơ thể và thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh sinh non.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 5 năm 2024
|
|
Liên quan đến vấn đề sinh non, trẻ sinh trước 30 tuần thai có nguy cơ cao mắc chứng loạn sản phế quản phổi - một tình trạng bị gây ra bởi sự phát triển của phổi bị gián đoạn. Các yếu tố như vi khuẩn Ureaplasma xâm nhập vào phổi và tình trạng viêm do bạch cầu trung tính gây ra góp phần vào nguy cơ này. Azithromycin - một loại kháng sinh macrolide có khả năng chống lại vi khuẩn và có liên quan đến việc giảm hoạt động của bạch cầu trung tính và hóa ứng động. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của azithromycin trong việc kiểm soát chứng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh non tháng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 4 năm 2024
|
|
Trong thời kỳ mang thai, việc sử dụng thuốc có sự ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thai nhi. Những phụ nữ bị mắc chứng động kinh thường cần dùng thuốc chống động kinh trong suốt thai kỳ. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện rằng một số loại thuốc như topiramate, valproate và lamotrigine ảnh hưởng tiêu cực lên sự phát triển thần kinh của bào thai. Do đó, Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu để điều tra sự quan hệ giữa việc sử dụng thuốc chống động kinh của người mẹ và nguy cơ rối loạn phổ tự kỷ ở các trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 4 năm 2024
|
|
Tiêm chủng cho phụ nữ đang mang thai đã được chứng minh là một chiến lược hiệu quả để bảo vệ trẻ nhỏ khỏi bệnh tật. RSVPreF3-Mat là vắc-xin tiểu đơn vị nhắm mục tiêu RSV được thiết kế dành riêng cho phụ nữ đang thai. Thành phần bao gồm protein tổng hợp RSV ở dạng tiền pha của nó. Công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã hỗ trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của văc-xin RSVPreF3-Mat trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 22 tháng 3 năm 2024
|
|
Thai kỳ là thời gian đầy thách thức phức tạp cho cả mẹ và thai nhi, vì thế việc chữa hoặc phòng bệnh bằng thuốc hoặc tiêm chủng phải được xem xét kỹ. Do đó, vắc xin ngừa COVID-19 đã trải qua quá trình thử nghiệm nghiêm ngặt để xác định tính an toàn của chúng đối với việc mang thai và sự phát triển sau này của trẻ. Một nghiên cứu điều tra tác động của việc tiêm chủng ngừa COVID-19 của mẹ đối với sự phát triển thần kinh của con cái đã được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association).
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 15 tháng 3 năm 2024
|
|
Các trẻ sinh non có nguy cơ cao bị nhiễm trùng huyết, viêm ruột và loạn sản phế quản phổi. Những tình trạng có thể góp phần gây ra các vấn đề về phát triển thần kinh. Sữa mẹ có khả năng giảm những rủi ro này và thúc đẩy sự phát triển thần kinh. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của sữa mẹ so với sữa công thức dành cho trẻ sinh non đối với sự phát triển thần kinh của trẻ non tháng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 3 năm 2024
|
|
Tổ chức Y tế Thế giới ủng hộ việc phân phối azithromycin hàng loạt trong cộng đồng hai năm một lần cho trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi sống ở những vùng có tỷ lệ tử vong ở trẻ em cao. Phương pháp can thiệp dạng rộng này giúp giảm 25% nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình quy mô lớn đòi hỏi phải có sự phối hợp hậu cần sâu rộng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu việc sử dụng azithromycin trong các lần khám định kỳ có mang lại kết quả tương đương hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc tiếp xúc với các loại khí ô nhiễm trong nhà có khả năng dẫn đến việc chậm phát triển ở các trẻ sơ sinh. Tuy rằng cơ chế không rõ, có khả năng rằng chất thải gia tăng mức độ oxi hóa dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch và gây ra tình trạng thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng.Ở các quốc gia kém và đang phát triển, các trẻ sơ sinh có khả năng tiếp xúc với khí ô nhiễm tại gia cao vì các bé có thời gian lớn ở nhà, đặc biệt khi gia đình sử dụng than hoặc củi để nấu ăn và tạo nhiệt. Tổ chức của Bill và Melinda Gates đã đầu tư một nghiên cứu điều tra liệu sử dụng nguồn nhiên liệu ít ô nhiễm như khí ga lỏng có thể giảm nguy cơ chậm phát triển.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 26 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc tiếp xúc với các chất thải ô nhiễm trong nhà gia tăng 30% rủi ro tử vong do viêm phổi nhi khoa. Các nghiên cứu quan sát trước đã ghi nhận việc tiếp xúc với các chất thải có bán kính nhỏ hơn 2.5 micrometer (PM2.5) gia tăng rủi ro viêm phổi. Việc đốt các nhiên liệu sinh khối như củi và than thải ra rất nhiều các chất ô nhiễm trên. Do tỷ lệ dùng nhiên liệu sinh khối cao ở các quốc gia có thu nhập thấp và vừa, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh sử ảnh hưởng của nhiên liệu sinh khối và khí ga lỏng lên hệ hô hấp nhi khoa.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 2 năm 2024
|
|
Nirsevimab là một kháng thể đơn dòng nhắm vào dạng tiền hợp nhất của protein F trên virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ em. Gần đây Nirsevimab đã được chấp thuận sử dụng ở Hoa Kỳ và Liên minh Châu u để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới do RSV gây ra ở trẻ em. Với thời gian bán thải kéo dài, một nghiên cứu đã khám phá tiềm năng của Nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ trong tình trạng khỏe mạnh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 2 năm 2024
|
|
Trẻ sinh non phải đối mặt với nguy cơ mắc hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh do tình trạng phổi kém phát triển. Phương pháp quản lý thông thường như là thở áp lực dương liên tục (CPAP) mang lại kết quả dưới mức tối ưu ở trẻ sơ sinh. Với mức độ chất hoạt động bề mặt bị thiếu hụt – một sự pha trộn quan trọng giữa phospholipid và protein có thể ngăn ngừa xẹp phế nang. Vì vậy, việc đặt ống nội khí quản trở nên cần thiết để sử dụng chất hoạt động bề mặt. Tuy nhiên, đặt nội khí quản ở trẻ sơ sinh có liên quan đến nhiều tác dụng phụ khác nhau. Do đó, một nghiên cứu điều tra khả năng nâng cao kết quả hô hấp thông qua việc sử dụng chất hoạt động bề mặt hầu họng để dự phòng trước khi áp dụng CPAP.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong bối cảnh mối lo ngại ngày càng tăng xung quanh tình trạng kháng kháng sinh, các cuộc thảo luận liên quan đến việc sử dụng các phác đồ kháng sinh ngắn hạn thay vì các phác đồ dài hạn đã được tiến hành nhằm giảm áp lực chọn lọc quá mức đối với các kiểu hình kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của liệu pháp ngắn hạn đối với bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ em được công bố kết quả trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong giai đoạn thai kì, nhiễm SARS-CoV-2 gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Do đó, việc ưu tiên tiêm chủng cho nhóm này là rất quan trọng. Mặc dù các nghiên cứu quan sát trước đây đã chứng minh tính an toàn của vắc xin đối với thai nhi nhưng chúng vẫn có những hạn chế về phạm vi kết quả được kiểm tra. Một bài viết nghiên cứu gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về tác động của vắc xin mRNA COVID-19 đối với sức khỏe trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 16 tháng 10 năm 2023
|
|
Glioma (u thần kinh đệm) là một khối u hệ thần kinh trung ương nguyên phát xuất phát từ tế bào thần kinh đệm. Đây là một căn bệnh phổ biến nhất ở bệnh nhi. Trong khi việc cắt bỏ và hóa trị đã cải thiện tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên 95%. Tuy nhiên, sự tái phát vẫn xảy ra trong nhiều ca mắc bệnh. Do vậy, nhu cầu nghiên cứu phương pháp điều trị mới là thiết yếu. Khoảng 20% u thần kinh đệm cấp độ thấp ở trẻ em có đột biến BRAF V600E. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để lý giải câu hỏi: Liệu Dabrafenib, chất ức chế BRAF V600E chọn lọc và Trametinib có thể mang lại lợi ích tương tự cho bệnh nhân nhi cũng như đối với người lớn hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 04 tháng 10 năm 2023
|
|
Các trường hợp trẻ em mắc bệnh trào ngược bàng quang niệu quản từ trung bình đến nặng, việc điều trị bằng kháng sinh liên tục là phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu - có khả năng tiến triển thành viêm bể thận và dẫn đến sẹo thận. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh kéo dài có khả năng làm ảnh hưởng hệ vi khuẩn đường ruột của trẻ và góp phần tăng nguy cơ đề kháng kháng sinh. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá những ưu điểm và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc điều trị dự phòng bằng kháng sinh ở trẻ em được chẩn đoán mắc chứng trào ngược bàng quang niệu quản cấp độ III, IV và V.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 8 năm 2023
|
|
Nhiều nghiên cứu trong lịch sử cho thấy IgG kháng polysaccharide (CPS) đặc hiệu huyết thanh ở trẻ sơ sinh có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh liên cầu khuẩn nhóm B. Vắc xin liên hợp glycoconjugate 197 CPS hóa trị sáu (GBS6) đang được phát triển như một loại vắc-xin dành cho phụ nữ đang mang thai để ngăn ngừa bệnh liên cầu khuẩn nhóm B ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả của vắc xin GBS6 trong việc ngăn ngừa mắc bệnh Streptococcus nhóm B ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 7 năm 2023
|
|
Tiểu đường thai kỳ là một trong những biến chứng sản khoa thường gặp và có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi. Rủi ro tiền sản giật ở người mẹ bị gia tăng và dẫn đến các biến chứng trong lúc sinh. Thêm vào đó, kích thước của thai nhi có thể lớn hơn bình thường và rủi ro chấn thương hoặc trật khớp vai có thể gia tăng. Hiện tại, các bà mẹ được khuyến cáo kiểm tra và điều trị tiểu đường thai kỳ vào tuần thai thứ 24. Biện pháp này đã có tính hiệu quả cao trong việc giúp khắc phục các rủi ro trong lúc mang thai. Vì thế, một nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ Úc và New Zealand đang được thực hiện để điều tra liệu biện pháp ngăn ngừa có thể áp dụng sớm hơn, vào tuần thứ 20, để gia tăng lợi ích lâm sàng.
|
|
Được tóm tắt và phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM. |
Đăng vào ngày 5 tháng 7 năm 2023
|
|
Trong số sáu chủng (A, B, C, W, X, Y) của vi khuẩn viêm màng não mô cầu, chủng A là tác nhân chính trong đa số các ca nhiễm. Tuy nhiên, nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng của vaccine MenACWY-D, chủng A đã được kiểm soát hiệu quả trong cộng đồng. Gần đây, tỷ lệ nhiễm viêm màng não mô cầu đang tăng cao trở lại do sự xuất hiện của các biến chủng khác. Trong đó, đặc biệt nhất là biến chủng X vì loại chủng này chưa được bổ sung vào vaccine MenACWY-D. Do đó, một nghiên cứu được tiến hành để điều tra tính hiệu quả và an toàn của vaccine mới NmCV-5 (vaccine tiểu đơn vị liên hợp viêm màng não mô cầu năm chủng ACWYX).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 26 tháng 6 năm 2023
|
|
Sự chuyển giao 25-hydroxyvitamin D (25[OH]D) từ mẹ sang thai nhi rất quan trọng cho sự phát triển xương ở trẻ sơ sinh. Do đó, khi nồng độ 25[OH]D ở người mẹ thấp, trẻ sẽ thiếu vitamin D và gặp vấn đề về xương. Do đó, một nghiên cứu đã xem xét những lợi ích của việc bổ sung vitamin D cho trẻ em có nồng độ 25[OH]D trong huyết thanh thấp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2023
|
|
Kiểm soát dị ứng với đậu phộng ở bệnh nhi gặp rất nhiều khó khăn vì các trẻ ít có khả năng nhận dạng và tránh được chất gây dị ứng. Trong những trường hợp xấu, trẻ có thể bị sốc phản vệ và mất mạng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu tiếp xúc với một liều nhỏ chất gây dị ứng đậu phộng có thể làm giảm độ mẫn cảm của trẻ bị dị ứng và giảm bớt tính nghiêm trọng của bệnh lý.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 24 tháng 5 năm 2023
|
|
Với mục tiêu làm giảm viêm nhiễm liên tục do bệnh lý viêm xoang mãn tính mang lại, các bác sĩ thường kê các thuốc thông mũi gốc corticosteroid. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của những loại thuốc này đối với trẻ em. Ngoài ra, tác động của thuốc thông mũi gốc corticosteroid đối với hệ vi sinh ở mũi vẫn chưa được làm sáng tỏ. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học Mỹ đã điều tra tác động của thuốc thông mũi gốc corticosteroid đối với chất lượng cuộc sống của trẻ em mắc bệnh viêm xoang mạn tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 10 tháng 5 năm 2023
|
|
Nhiễm trùng do virus hô hấp hợp bào là tác nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi ở các quốc gia kém phát triển. Tiêm chủng cho phụ nữ mang thai có thể dẫn đến sự chuyển giao kháng thể bảo vệ qua tử cung. Việc chuyển giao kháng thể này đã được chứng minh có hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh như bệnh uốn ván, ho cảm cúm và SARS-CoV-2. Do đó, một nghiên cứu được tài trợ bởi Pfizer đã được tiến hành để khám phá khả năng tiêm chủng cho phụ nữ mang thai vaccine RSVpreF nhằm ngăn ngừa bệnh lý này ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 4 năm 2023
|
|
Ung thư nguyên bào thần kinh là một trong những tác nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở bệnh nhi. Các khối u nguyên bào này sản xuất rất nhiều protein disaloganglioside GD2; do đó, phương án điều trị với kháng thể đơn bào đem lại nhiều kết quả khả quan. Hiện nay, tế bào lympho T với thụ thể kháng nguyên dạng khảm (chimeric antigen receptors T-cell - CAR-T-cells) là một phương pháp điều trị ung thư tân tiến: các tế bào lympho T được lập trình để sản xuất thụ thể bám vào loại kháng nguyên xác định và diệt trừ tế bào ung thư. Vì thế, Cục quản lý Dược phẩm Ý tài trợ cho một nghiên cứu về khả năng điều trị khối u nguyên bào thần kinh bằng GD2-CART01 CAR-T-cells.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 22 tháng 2 năm 2023
|
|
Ở đa phần các ca, virus SARS-CoV-2 gây ra bệnh tương đối nhẹ ở trẻ em dưới 5 tuổi. Nhưng, COVID-19 vẫn có thể dẫn đến các triệu chứng trầm trọng và tử vong. Hiện tại, vẫn chưa có có nghiên cứu về sự an toàn và hiệu quả của vaccine BNT162b2 ở trẻ em. Vi thế công ty Pfizer và BioNTech đã thực hiện một dự án nghiên cứu lâm sàng để thử nghiệm vaccine của công ty lên các trẻ dưới 5 tuổi
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 2 năm 2023
|
|
Vi khuẩn Neisseria meningitidis là nguyên nhân gây ra viêm màng não phổ biến nhất ở trẻ em. Vaccine chứa 4 thành phần (4CMenB) được công ty GlaxoSmithKline bán toàn thế giới với nhãn tên Bexsero. Một nghiên cứu được đăng lên tạp chí y học New England Journal of Medicine đã công bố sự hiệu quả của vaccine 4CMenB trong việc phòng ngừa viêm màng não ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 19 tháng 12 năm 2022
|
|
Benzodiazepine thường được kê toa để điều trị hội chứng rối loạn lo âu và trầm cảm ở phụ nữ mang thai. Nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu rõ về sự ảnh hưởng của thuốc lên sự phát triển tâm thần của thai nhi. Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng thuốc có thể tìm thấy trong nước ối và có thể ảnh hưởng lên sức khỏe thai nhi. Vì thế, một nghiên cứu thuần tập lớn hơn đã được thực hiện để hiểu thêm về rủi ro của benzodiazepine lên thần kinh của trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 12 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu về chất chuyển hóa trước đã cho thấy butyrate cần thiết cho một hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh. Thiếu loại acid béo chuỗi ngắn này có thể giảm số lượng của một số loài vi khuẩn có lợi; điều này dẫn tới sự rối loạn chuyển hóa chất và gia tăng cân nặng. Một nghiên cứu lâm sàng gần đây đã thử nghiệm sự hiệu quả của việc bổ sung butyrate trong việc chữa trị béo phì ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 11 năm 2022
|
|
Amino acid có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển thần kinh, và các trẻ được khuyến cáo sử dụng từ 3 tới 4 g mỗi ngày. Bởi vì não của các trẻ sinh non kém phát triển hơn bình thường, các bé có thể cần phải sử dụng liều cao hơn. Các nghiên cứu quan sát trước đã tìm thấy lượng amino acids được bổ sung có tính sự liên hệ tỷ lệ thuận với mức độ phát triển thần kinh, nhưng chúng ta vẫn chưa biết liều lượng phù hợp cho các trẻ sinh thiếu tháng. Một nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu ProVIDe báo cáo về sự hiệu quả của bổ sung amino acids trong việc ngăn ngừa thiểu năng thần kinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 4 tháng 11 năm 2022
|
|
Vào giữa tháng 6 năm 2022, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ khuyến cáo việc sử dụng vaccine COVID-19 cho các trẻ em dưới 6 tháng tuổi. Bộ Y Tế Việt Nam cũng đưa ra khuyến cáo tương tự vào tháng 7. Một nghiên cứu đa trung tâm đã khảo sát tính hiệu quả và độ an toàn của vaccine mRNA-1273, được sản xuất bởi công ty dược Moderna, và công bố kết quả tạp chí y học New England Journal of Medicine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 31 tháng 10 năm 2022
|
|
Nirsevimab là một loại kháng thể được thiết kế để tương tác với fusion protein trên bề mặt của respiratory syncytial virus (RSV). Vì thế, thuốc đã được cho phép sử dụng để ngăn ngừa nhiễm RSV trong trẻ sinh non. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược MedImmune, AstraZeneca và Sanofi đã báo cáo về sự hiệu quả của nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ sinh đủ tháng và cận thiếu tháng.
|