|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 4 năm 2026
|
|
Nhiễm khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm dạ dày mãn tính, có thể dẫn đến loét và ung thư dạ dày. Phác đồ điều trị hiện tại bao gồm kháng sinh và thuốc ức chế axit. Tuy nhiên, do tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng, các lựa chọn điều trị mới đang rất cần thiết. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên tạp chí Lancet đã khám phá việc sử dụng rifasutenizol để điều trị nhiễm khuẩn Helicobacter pylori.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2026
|
|
Viêm phổi mãn tính do nấm Aspergillus fumigatus gây ra gánh nặng lớn ở các quốc gia nhiệt đới đang phát triển như Việt Nam và Ấn Độ. Tình trạng này có thể điều trị được bằng phác đồ 6 đến 12 tháng sử dụng thuốc kháng nấm azole đường uống. Voriconazole được thường dùng do sinh khả dụng cao, nhưng itraconazole cũng là một lựa chọn khả thi do giá cả phải chăng và độ an toàn tốt hơn. Để hiểu rõ hơn về lựa chọn điều trị tối ưu, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh voriconazole với itraconazole trong việc điều trị bệnh aspergillosis phổi mạn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 8 tháng 4 năm 2026
|
|
Huyết khối tĩnh mạch là một bệnh lý tim mạch phổ biến có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm. Các loại thuốc như apixaban và rivaroxaban có thể được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa tái phát. Cả hai loại thuốc này đều hoạt động bằng cách liên kết với yếu tố đông máu Xa; điều này ngăn cản việc xúc tác tạo ra thrombin cần thiết cho quá trình đông máu. Do tác dụng chống đông máu này, một nghiên cứu, được công bố gần đây trên tạp chí y học New England Journal of Medicine, đã được tiến hành để so sánh nguy cơ chảy máu giữa apixaban và rivaroxaban.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 4 năm 2026
|
|
Suy tủy là một hậu quả không mong muốn của hóa trị, trong đó hoạt động của tủy xương bị suy giảm. Điều này làm giảm đáng kể sự sản xuất tiểu cầu, cùng với các sản phẩm máu khác. Tình trạng này được gọi là giảm tiểu cầu do hóa trị, và hiện chưa có phương pháp điều trị nào được phê duyệt. Một nghiên cứu, được công bố gần đây trên tạp chí y học New England Journal of Medicine, đã xem xét việc sử dụng romiplostim để điều trị giảm tiểu cầu do hóa trị.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 4 năm 2026
|
|
Với việc áp dụng rộng rãi liệu pháp kháng retrovirus ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong ở thanh thiếu niên do nhiễm HIV đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, thanh thiếu niên nhiễm HIV vẫn gặp phải tình trạng ức chế nghiêm trọng sự phát triển hệ xương khớp. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên tạp chí Lancet đã xem xét việc sử dụng canxi cacbonat và vitamin D bổ sung để tăng cường sức khỏe xương ở thanh thiếu niên sống chung với HIV.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 4 năm 2026
|
|
Chàm da và viêm phế quản là những bệnh dị ứng phổ biến, với số lượng ca gia tăng ở các nước đang phát triển. Điều này tạo gánh nặng đáng kể cho sức khỏe cộng đồng ở các quốc gia này. Một vài nghiên cứu quan sát trước đây đã phát hiện ra rằng việc sử dụng paracetamol trong thời kỳ sơ sinh tương ứng với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh chàm và các bệnh dị ứng khác. Tuy nhiên, mối quan hệ này chưa được chứng minh rõ ràng do thiết kế của các nghiên cứu trước, vì vậy một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên đã được tiến hành để hiểu rõ hơn về nguy cơ mắc bệnh chàm ở trẻ sơ sinh được điều trị bằng paracetamol.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 3 năm 2026
|
|
Kháng thể đơn dòng đã được chứng minh là có hiệu quả cao trong việc điều trị SARS-CoV-2; tuy nhiên, các đột biến ở protein spike (S) của virus đã dẫn đến tình trạng kháng thuốc đáng kể. Ví dụ, sự xuất hiện của biến thể Omicron BA.1 đã làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện có như casirivimab và imdevimab. Gần đây, tạp chí Lancet đã công bố một nghiên cứu xem xét hiệu quả của sotrovimab trong điều trị COVID-19.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2026
|
|
Trên toàn cầu, nhiễm trùng máu là một mối lo ngại lớn và gây gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế. Đáng báo động hơn, với sự phát triển và lan rộng của vi khuẩn kháng kháng sinh, việc điều trị các bệnh nhiễm trùng này trở nên khó khăn hơn đáng kể. Cefiderocol là một loại kháng sinh mới đã được phê duyệt sử dụng tại Hoa Kỳ và Châu Âu vào năm 2020. Một nghiên cứu kiểm tra việc sử dụng thuốc này để điều trị nhiễm trùng máu đã được công bố gần đây trên tạp chí Lancet.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 3 năm 2026
|
|
Nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng sự hoạt hóa quá mức thụ thể mineralocorticoid có thể dẫn đến tăng giữ nước và muối. Bên cạnh những tác động tiêu cực đến thận và hệ tim mạch, nó còn liên quan đến các con đường gây viêm và xơ hóa. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí New England Journal of Medicine đã điều tra việc sử dụng finerenone để điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tiểu đường loại 1 và bệnh thận mãn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 3 năm 2026
|
|
Trong những năm gần đây, virus đậu khỉ ở người đã đặt ra một thách thức đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng. Là một chủng virus có họ hàng với virus đậu mùa đã bị loại trừ, các chuyên gia đã có giả thuyết đến việc sử dụng các liệu pháp điều trị đậu mùa cho bệnh đậu khỉ. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine đã thử nghiệm sự hiệu quả của tecovirimat trong điều trị nhiễm virus đậu khỉ ở người.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 3 năm 2026
|
|
Những người mắc bệnh tâm thần phân liệt phải đối mặt với nguy cơ tử vong sớm cao hơn đáng kể, chủ yếu do bệnh tim mạch. Thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai, đặc biệt là clozapine và olanzapine, gia tăng nguy cơ tăng cân, kháng insulin và các rối loạn chuyển hóa khác. Semaglutide, một chất chủ vận thụ thể peptide giống glucagon-1 (GLP-1), đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm cân và giảm thiểu nguy cơ tim mạch. Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã đánh giá liệu semaglutide có thể cải thiện các thông số chuyển hóa ở bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị bằng thuốc chống loạn thần hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 18 tháng 3 năm 2026
|
|
Chế độ ăn ketogenic, đặc trưng bởi việc tiêu thụ lượng chất béo cao và lượng carbohydrate rất thấp. Chế độ ăn này kích thích sản sinh các thể ketone và ảnh hưởng đến các quy trình chuyển hóa, tín hiệu viêm và dẫn truyền thần kinh. Do tác dụng sinh học thần kinh của chế độ ăn này, một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Journal of the American Medical Association đã xem xét liệu chế độ ăn ketogenic có thể dùng để cải thiện kết quả điều trị ở những bệnh nhân bị trầm cảm kháng trị hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 16 tháng 3 năm 2026
|
|
Chế độ ăn Địa Trung Hải, đặc trưng bởi việc tiêu thụ nhiều dầu ô liu, các loại hạt, trái cây, rau củ và ngũ cốc nguyên hạt, cùng với việc giảm tiêu thụ thịt đỏ và các sản phẩm từ sữa, đã được chứng minh là giúp kiểm soát cân nặng tốt hơn, cải thiện sức khỏe tim mạch và giảm viêm toàn thân. Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da mãn tính do rối loạn điều hòa miễn dịch gây ra. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Journal of the American Medical Association đã xem xét liệu các đặc tính chống viêm của chế độ ăn Địa Trung Hải có thể được tận dụng như để điều trị bệnh vảy nến.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 3 năm 2026
|
|
Kiểm soát hiệu quả lượng cholesterol lipoprotein mật độ thấp (LDL) rất quan trọng trong việc ngăn ngừa xơ vữa động mạch và các biến chứng tim mạch tiếp theo. PCSK9 đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa LDL bằng cách liên kết với các thụ thể LDL và thúc đẩy sự phân hủy của chúng trong tế bào gan, do đó hạn chế việc loại bỏ LDL khỏi tuần hoàn máu. Enlicitide là một hợp chất mới làm gián đoạn sự tương tác giữa PCSK9 và thụ thể LDL, giúp duy trì sự hiện diện của thụ thể trên tế bào gan và tăng cường loại bỏ cholesterol LDL khỏi máu. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine đã đánh giá hiệu quả của enlicitide trong việc giảm mức cholesterol LDL.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 11 tháng 3 năm 2026
|
|
Các khối u ung thư ngực có biểu hiện thụ thể estrogen, thụ thể progesterone và thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì người 2 (HER2) thường được gọi là ung thư vú ba dương tính. Bệnh có thể được điều trị bằng sự kết hợp giữa các thuốc nhắm mục tiêu HER2 và các liệu pháp nội tiết. Tuy nhiên, tình trạng kháng thuốc vẫn là một thách thức lớn. Gần đây, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá xem việc bổ sung thuốc ức chế CDK4/6 palbociclib có thể cải thiện kết quả điều trị ở nhóm bệnh nhân này hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 9 tháng 3 năm 2026
|
|
Sự tắc nghẽn động mạch võng mạc trung tâm do huyết khối làm gián đoạn lưu lượng máu đến mắt, dẫn đến tổn thương thiếu máu cục bộ ở võng mạc. Nếu không được điều trị, sẽ gây mất thị lực vĩnh viễn. Mặc dù mức độ nghiêm trọng của tình trạng này, vẫn chưa có biện pháp can thiệp nào chứng minh có hiệu quả. Mặc dù liệu pháp tiêu huyết khối đã được chứng minh hiệu quả trong điều trị đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính, nhưng hiệu quả của nó trong trường hợp tắc động mạch võng mạc trung tâm vẫn chưa chắc chắn. Để đánh giá xem các chiến lược tiêu huyết khối dựa trên đột quỵ có thể được áp dụng cho tình trạng thiếu máu cục bộ ở mắt hay không, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng tenecteplase ở bệnh nhân bị tắc động mạch võng mạc trung tâm cấp tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2026
|
|
Triglyceride cao trong máu gia tăng nguy cơ viêm tụy cấp. Do đó, các liệu pháp làm giảm nồng độ triglyceride trong huyết thanh, chẳng hạn như fibrate, thường được sử dụng để giảm rủi ro biến chứng ở tụy. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả và độ an toàn của olezarsen, một thuốc ức chế apolipoprotein C-III, trong việc làm giảm nồng độ triglyceride và ngăn ngừa viêm tụy.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2026
|
|
Viêm gan siêu vi D là một bệnh mãn tính nghiêm trọng có thể làm tăng đáng kể nguy cơ xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Nhiễm virus này có thể được kiểm soát bằng bulevirtide. Tuy nhiên, việc sử dụng bulevirtide rất khó khăn do cần phải tiêm thuốc dưới da hàng ngày. Thêm vào đó, bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh cao nếu ngừng điều trị. Vì thế một liệu pháp điều trị mới rất cần thiết; một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá việc sử dụng tobevibart kết hợp với elebsiran để điều trị viêm gan siêu vi D.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 2 tháng 3 năm 2026
|
|
Sau quá trình thử nghiệm rộng rãi, các chuyên gia đã chứng minh rằng nivolumab có độ hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh ung thư hắc tố. Khi so sánh với các liệu pháp miễn dịch khác, nivolumab cũng đã được chứng minh có tính hiệu quả cao hơn. Gần đây, một nghiên cứu theo dõi dài hạn về kết quả lâm sàng của nivolumab đối với bệnh ung thư hắc tố đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 2 năm 2026
|
|
Các khối u ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ biểu hiện mức độ cao thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Vì các thụ thể này rất quan trọng đối với sự phát triển của khối u, nên việc ức chế mục tiêu này bằng thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR (EGFR-TKI) là một chiến lược hiệu quả để điều trị ung thư. Tuy nhiên, đột biến ở thụ thể EGFR có thể dẫn đến kháng thuốc. Trong những trường hợp này, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng sacituzumab tirumotecan để điều trị thay thế.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 11 tháng 2 năm 2026
|
|
Nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) ngày càng phổ biến trong những năm gần đây sau đại dịch COVID-19. Đối với bệnh nhân cao tuổi, nhiễm RSV có thể dẫn đến tử vong. Hiện đã có vắc-xin phòng ngừa nhiễm RSV, và vắc-xin này có độ hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa các bệnh lý đường hô hấp dưới liên quan đến RSV. Để tìm hiểu thêm về lợi ích của vắc-xin này, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra khả năng ngăn ngừa nhập viện ở người cao tuổi.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 9 tháng 2 năm 2026
|
|
Bệnh đa xơ cứng là một bệnh tự miễn dịch với do sự tấn công của hệ miễn dịch vào lớp vỏ myelin bao quanh các tế bào thần kinh. Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng kết quả bất lợi trong thai kỳ như sinh non, rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, v.v., có thể làm thay đổi sự phát triển của hệ miễn dịch. Theo logic này, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu ảnh hưởng của các bất thường trong thai kỳ đến nguy cơ phát triển bệnh đa xơ cứng sau này trong cuộc sống.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 2 năm 2026
|
|
Nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) gia tăng có khả năng thúc đẩy sự hình thành mảng xơ vữa dọc theo nội mô mạch máu, dẫn đến hẹp lòng mạch và suy giảm lượng máu lưu thông. Quá trình này làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các biến cố tim mạch do xơ vữa động mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ thiếu máu cục bộ. Với sự tài trợ của Amgen, một nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của evolocumab trong việc ngăn ngừa các biến cố tim mạch nghiêm trọng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 2 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã phát hiện ra rằng 1 trong 10 trẻ em và thanh thiếu niên bị chứng đau nửa đầu theo cơn. Rối loạn này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe của trẻ em. Phương pháp điều trị hiện tại cho trẻ em có hiệu quả hạn chế nhưng có tác dụng phụ nghiêm trọng; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành, với sự tài trợ của công ty Teva Pharmaceuticals, để đánh giá việc sử dụng fremanezumab, một loại thuốc đã được phê duyệt cho người lớn, để điều trị chứng đau nửa đầu ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 2 tháng 2 năm 2026
|
|
Osimertinib là thuốc ức chế tyrosine kinase thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) thế hệ thứ ba. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng osimertinib có hiệu quả hơn trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ so với các thuốc ức chế EGFR thế hệ trước và hóa trị liệu dựa trên platin. Ngoài ra, bằng chứng gần đây cho thấy việc kết hợp hóa trị liệu platin với thuốc ức chế EGFR thế hệ thứ hai gefitinib dẫn đến kết quả lâm sàng tốt hơn so với chỉ dùng gefitinib đơn độc. Dựa trên những phát hiện này, một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được tiến hành để đánh giá xem việc bổ sung hóa trị liệu dựa trên platin vào osimertinib có thể cải thiện kết quả điều trị hơn nữa hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 1 năm 2026
|
|
Điều trị viêm màng não do lao có rất nhiều khó khăn do phác đồ điều trị phức tạp, tỷ lệ kháng thuốc ngày càng tăng, và thuốc không thể thâm nhập vào dịch não tủy. Điều này dẫn đến kết quả điều trị kém hiệu quả và tỷ lệ tử vong cao ở bệnh nhân bị bội nhiễm lao và HIV. Một nghiên cứu được tài trợ bởi Hội Đồng Nghiên Cứu Y Khoa Vương Quốc Anh đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng phác đồ rifampin liều cao để điều trị viêm màng não do lao.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 1 năm 2026
|
|
Nhiễm virus HPV là một trong những nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung phổ biến nhất. Việc tiêm phòng có thể ngăn ngừa nhiễm virus và giảm nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng trên toàn thế giới còn thấp; do đó, số lượng các ca ung thư cổ tử cung còn rất cao, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Với nguồn tài trợ từ Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá khả năng phòng ngừa ung thư của liệu trình tiêm vắc-xin HPV một liều.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 1 năm 2026
|
|
Việc sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 đã trở nên rất phổ biến như một phương pháp để kiểm soát cân nặng, quản lý bệnh tiểu đường và ngăn ngừa các biến chứng sức khỏe khác liên quan đến béo phì. Một số biến chứng này là các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Với sự tài trợ của Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành nhằm so sánh tirzepatide với dulaglutide trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 1 năm 2026
|
|
Phẫu thuật cắt bỏ bàng quang là phương pháp điều trị đầu tay cho bệnh nhân bị chẩn đoán ung thư bàng quang xâm lấn cơ; tuy nhiên, bệnh vẫn tái phát ở 50% trường hợp. Hiện tại có các phương pháp hóa trị, nhưng nếu điều trị xảy ra một cách không cần thiết, nguy cơ các tác dụng phụ xảy ra sẽ gia tăng. Do đó, việc tìm ra một dấu ấn sinh học để chứng minh sự tồn tại của các khối u còn sót lại là rất quan trọng. DNA của khối u lưu hành trong máu đã được chứng minh là một chỉ số hữu ích cho việc dự đoán sự tái phát ung thư đại tràng. Vì vậy một nghiên cứu do Roche tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng atezolizumab trong điều trị ung thư bàng quang ở bệnh nhân có DNA khối u lưu hành trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 1 năm 2026
|
|
Nhằm trốn tránh hệ thống miễn dịch, nhiều tế bào khối u biểu hiện PD-1 trên bề mặt làm giảm hoạt động của các tế bào miễn dịch đã nhắm mục tiêu tiêu diệt chúng. Can thiệp vào phương pháp né tránh miễn dịch này bằng cách nhắm mục tiêu và ức chế PD-1 đã được chứng minh là thành công. Công ty dược phẩm RemeGen đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá lợi ích bổ sung của việc thêm toripalimab - một liệu pháp miễn dịch kháng PD-1 - vào liệu pháp hiện tại điều trị ung thư biểu mô đường tiết niệu, disitamab vedotin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 1 năm 2026
|
|
Mỗi mùa cúm, các nhóm dân số dễ bị tổn thương chẳng hạn như người cao tuổi (những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất). Đối với nhóm người lớn tuổi này, hiệu quả của vắc-xin trong việc ngăn ngừa nhập viện vốn đã thấp và không đồng đều và có thể còn kém hơn so với dân số trung bình. Với sự tài trợ của Sanofi, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra hiệu quả của vắc-xin cúm liều cao hơn; nghiên cứu này gần đây đã được công bố kết quả trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 1 năm 2026
|
|
Trong giai đoạn tiềm ẩn sau khi nhiễm virus herpes simplex (HSV-1 và HSV-2) ban đầu, virus có thể xâm nhập vào hạch thần kinh sinh ba và di chuyển đến não thông qua vận chuyển sợi trục ngược chiều. Trong nghiên cứu trên động vật, HSV có thể lây nhiễm vào tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm, gây tích tụ protein amyloid β và phosphoryl hóa protein tau - một dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer. Hơn nữa, một nghiên cứu cho thấy 90% bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer sau khi chết có DNA HSV-1 có thể phát hiện được trong các mảng amyloid. Với nguồn tài trợ từ Viện Lão hóa Quốc gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra hiệu quả của valacyclovir trong điều trị bệnh Alzheimer có triệu chứng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 1 năm 2026
|
|
Tại nhiều quốc gia, liệu pháp aspirin dài hạn thường được khuyến cáo cho bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Các hướng dẫn gần đây hơn đã đề xuất bổ sung thuốc ức chế P2Y12 vào aspirin, mặc dù bằng chứng hỗ trợ phương pháp này vẫn còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu được tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Thụy Điển đã đánh giá lợi ích và rủi ro tim mạch của việc kết hợp aspirin với ticagrelor ở bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 1 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng glucocorticoid có thể giúp giảm viêm ở bệnh nhân mắc viêm phổi cộng đồng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện ở những nơi có nguồn lực dồi dào và loại trừ các bệnh mãn tính thường gặp ở những nơi có nguồn lực hạn chế như HIV và lao. Nhờ vào nguồn tài trợ từ Wellcome Trust, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng glucocorticoid trong điều trị viêm phổi cộng đồng ở một môi trường có nguồn lực hạn chế.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 1 năm 2026
|
|
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những người có nồng độ axit béo không bão hòa đa n-3 trong máu cao có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn. Nhiều bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo do bệnh thận giai đoạn cuối cũng mắc các bệnh tim mạch. Thêm vào đó, những bệnh nhân này có mức axit béo không bão hòa đa n-3 thấp hơn bình thường. Với sự tài trợ của Quỹ Tim mạch và Đột quỵ Canada, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng tim mạch của việc bổ sung dầu cá ở những bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 1 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng thụ thể sphingosine-1-phosphate (S1P) rất cần thiết cho sự di chuyển và chức năng của các tế bào miễn dịch. Hiện đã có những nỗ lực thành công trong việc điều chỉnh mục tiêu này để kiểm soát các bệnh tự miễn dịch như bệnh đa xơ cứng và viêm loét đại tràng. Với nguồn tài trợ từ Amgen, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng cenerimod để điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 1 năm 2026
|
|
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn dịch trong đó tế bào B tạo ra kháng thể nhắm vào protein nội sinh của cơ thể. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng anifrolumab có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh và tình trạng viêm bằng cách ngăn chặn con đường truyền tín hiệu interferon loại I. Gần đây, một nghiên cứu dài hạn về hiệu quả của anifrolumab được tài trợ bởi AstraZeneca và đã được công bố kết quả trên tạp chí Lancet.
|