​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
ENGLISH

CHỦ ĐỀ: DỊ ỨNG & MIỄN DỊCH

Điều Trị Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống Bằng Cenerimod


CHỦ ĐỀ: ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 1 năm 2026
Picture
Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng thụ thể sphingosine-1-phosphate (S1P) rất cần thiết cho sự di chuyển và chức năng của các tế bào miễn dịch. Hiện đã có những nỗ lực thành công trong việc điều chỉnh mục tiêu này để kiểm soát các bệnh tự miễn dịch như bệnh đa xơ cứng và viêm loét đại tràng. Với nguồn tài trợ từ Amgen, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng cenerimod để điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu Quả Lâu Dài Của Anifrolumab Trong Điều Trị Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống


CHỦ ĐỀ: ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 5 tháng 1 năm 2026
Picture
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn dịch trong đó tế bào B tạo ra kháng thể nhắm vào protein nội sinh của cơ thể. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng anifrolumab có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh và tình trạng viêm bằng cách ngăn chặn con đường truyền tín hiệu interferon loại I. Gần đây, một nghiên cứu dài hạn về hiệu quả của anifrolumab được tài trợ bởi AstraZeneca và đã được công bố kết quả trên tạp chí Lancet.
Đọc Tiếp >>>

Bổ Sung Golimumab Vào Phác Đồ Điều Trị Methotrexate/Corticosteroid Để Kiểm Soát Viêm Khớp Vảy Nến


CHỦ ĐỀ: Xương Khớp, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 22 tháng 12 năm 2025
Picture
Bệnh nhân có tiền sử bệnh vảy nến da có nguy cơ mắc viêm khớp vảy nến cao hơn trong tương lai. Phác đồ điều trị tiêu chuẩn hiện nay là sự kết hợp giữa corticosteroid, methotrexate và thuốc sinh học ức chế con đường sưng viêm. Do chi phí cao của các thuốc sinh học, chúng thường không có sẵn ở các nước đang phát triển. Với sự tài trợ của Janssen, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra hiệu quả lâm sàng của golimumab trong điều trị viêm khớp vảy nến.
Đọc Tiếp >>>

Thuốc Ức Chế Interleukin-23 Đường Uống, Icotrokinra, Để Kiểm Soát Bệnh Vẩy Nến Mảng Bám Từ Trung Bình Đến Nặng


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 1 tháng 12 năm 2025
Picture
Vảy nến mảng là một tình trạng viêm da do phản ứng miễn dịch quá mức. Các phương pháp điều trị nhắm vào các con đường gây viêm - chẳng hạn như interleukin-12 (IL-12), IL-17, IL-23 và TNFα - mang lại hiệu quả, tuy nhiên, hầu hết là thuốc dạng tiêm. Việc phải tái khám thường xuyên có thể làm giảm sự tuân thủ điều trị, trong khi các phương pháp điều trị bằng đường uống hiện nay thường kém hiệu quả hơn. Nhằm giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Johnson & Johnson tài trợ đã đánh giá thuốc icotrokinra trong việc điều trị vẩy nến mảng.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Bọt Roflumilast 0,03% Để Điều Trị Bệnh Vẩy Nến Mảng Bám Ảnh Hưởng Đến Da Đầu


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 11 năm 2025
Picture
Việc điều trị bệnh vẩy nến mảng bám ảnh hưởng đến da đầu gặp khó khăn vì sự hiện diện của tóc có thể cản trở việc sử dụng các tác nhân bôi ngoài da dưới dạng thuốc mỡ hoặc kem. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị mới hơn như bọt có thể hiệu quả hơn và phù hợp hơn với việc chăm sóc tóc. Với sự tài trợ từ Arcutis Biotherapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng roflumilast dạng bọt để kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Viêm Da Dị Ứng Từ Trung Bình Đến Nặng Bằng Ivarmacitinib


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 5 tháng 11 năm 2025
Picture
Đối với căn bệnh viêm da dị ứng, triệu chứng viêm và ngứa chủ yếu là do các cytokine IL-4, IL-13 và IL-31 gây ra. Các liệu pháp hiện tại đang nhắm vào các cytokine này hoặc các protein tín hiệu hạ nguồn của chúng, chẳng hạn như nhóm Janus kinase (JAK); Tuy nhiên, hiệu quả của chúng vẫn còn hạn chế và gây ra tác dụng phụ thường gặp. Để giải quyết những thách thức này, Công ty Dược phẩm Jiangsu Hengrui đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của ivarmacitinib - một chất ức chế JAK chọn lọc trong điều trị viêm da dị ứng.
Đọc Tiếp >>>

Ngăn Chặn Cytokine Thúc Đẩy Hoạt Động Của Tế Bào Lympho B Bằng Telitacicept Để Kiểm Soát Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 31 tháng 10 năm 2025
Picture
Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn do tế bào lympho B gây ra. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh này; tuy nhiên, hiệu quả và độ an toàn của chúng chưa đạt mức tối ưu. Các cytokine như BLyS và APRIL đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của lupus. Với sự tài trợ từ công ty dược RemeGen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng thuốc telitacicept trong việc kiểm soát bệnh lupus.
Đọc Tiếp >>>

Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Thuốc Ức Chế Interleukin-17 Lên Sức Khỏe Tim Mạch


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​
Đăng vào ngày 29 tháng 9 năm 2025
Picture
Các nghiên cứu trước đây cho thấy mối liên hệ giữa việc sử dụng chất thuốc chế interleukin-17 (IL-17) trong bệnh vẩy nến và nguy cơ gia tăng các biến cố tim mạch nghiêm trọng. Phản ứng này có thể do vai trò của IL-17 trong quá trình sản xuất collagen. Bằng cách làm giảm nồng độ IL-17, các liệu pháp nhắm vào tế bào T-helper 17 có thể làm mất ổn định các mảng xơ vữa động mạch. Điều này làm tăng nguy cơ tắc nghẽn mạch máu. Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, Hiệp Hội Da Liễu Pháp đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn của thuốc ức chế IL-17 trên tim mạch.
Đọc Tiếp >>>

Vedolizumab Giúp Ngăn Ngừa Tái Phát Sau Phẫu Thuật Ở Bệnh Crohn


CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​
Đăng vào ngày 26 tháng 9 năm 2025
Picture
Đối với căn bệnh Crohn, phương pháp cắt bỏ mang lại tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên, sau phẫu thuật vẫn có nhiều bệnh nhân bị tái phát bệnh trong năm đầu tiên. Hiện nay, vẫn chưa có liệu pháp điều trị nội khoa nào được chấp thuận để ngăn ngừa tái phát sau phẫu thuật. Một nghiên cứu do Takeda tài trợ nhằm tìm hiểu tiềm năng trong việc sử dụng Vedolizumab trong điều trị bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.
Đọc Tiếp >>>

So Sánh Methotrexate và Prednisone Trong Việc Điều Trị Bệnh Sarcoidosis Phổi​


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​​​​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 6 tháng 8 năm 2025
Picture
Prednisone là liệu pháp điều trị kháng viêm đầu tay cho bệnh sarcoidosis phổi. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này được khuyến nghị dựa trên các nghiên cứu cũ và chất lượng thấp. Ngoài ra, việc sử dụng prednisone kéo dài gia tăng nguy cơ các tác dụng phụ. Gần đây, một nghiên cứu do Quỹ Phổi Hà Lan tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc thay thế prednisone bằng methotrexate trong điều trị bệnh sarcoidosis phổi.
Đọc Tiếp >>>

Kết Hợp Albuterol và Budesonide Để Ngăn Ngừa Lên Cơn Hen Suyễn


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​​​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 28 tháng 7 năm 2025
Picture
Thuốc chủ vận β2 tác dụng ngắn, như albuterol, thường được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị hen suyễn cấp tính. Tuy nhiên, vì thuốc không có khả năng  điều hòa miễn dịch, hiệu quả của albuterol bị hạn chế. Do đó, việc kết hợp albuterol và một glucocorticoid dạng hít như budesonide có thể tăng cao hiệu quả lâm sàng. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được thực hiện để phân tích việc kết hợp giữa albuterol và budesonide nhằm ngăn ngừa cơn hen suyễn cấp ở mức độ nhẹ.
Đọc Tiếp >>>

Kết hợp thuốc ức chế JAK Baricitinib và liệu pháp quang trị liệu UV-B dải hẹp để điều trị bệnh bạch biến


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 18 tháng 7 năm 2025
Picture
Bạch biến là một rối loạn mất sắc tố da do tế bào hắc tố bị phá hủy bởi các tế bào miễn dịch. Bệnh thường được điều trị bằng liệu pháp quang trị liệu UV-B. Tuy nhiên, vì quá trình này được trung gian bởi cả interferon alpha do tế bào dendrit sản xuất và interleukin-13 từ đáp ứng của tế bào T loại 2. Các loại thuốc can thiệp như ruxolitinib và baricitinib, có thể được sử dụng để kiểm soát tình trạng bệnh. Với sự tài trợ từ Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả kết hợp của baricitinib và liệu pháp quang trị liệu UV-B trong điều trị bạch biến.
Đọc Tiếp >>>

Thuốc kháng CD19 Inebilizumab trong điều trị bệnh nhược cơ


CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 7 năm 2025
Picture
Nhược cơ là một bệnh tự miễn, trong đó tế bào B sản xuất kháng thể nhắm vào thụ thể acetylcholine tại điểm nối thần kinh cơ. Bệnh có thể được kiểm soát bằng glucocorticoid kháng viêm và chất ức chế cholinesterase để tăng thời gian truyền tín hiệu tại điểm nối thần kinh cơ. Việc nhắm vào các tế bào B sản xuất tự kháng thể là một lựa chọn khác với rituximab nhắm vào dấu hiệu CD20 trên tế bào B. Inebilizumab là một lựa chọn khả thi khác nhắm vào một dấu hiệu khác trên tế bào B. Amgen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của thuốc này trong việc kiểm soát nhược cơ.
Đọc Tiếp >>>

Tolebrutinib và Teriflunomide mang lại kết quả tương tự trong bệnh đa xơ cứng tái phát


CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 9 tháng 6 năm 2025
Picture
Các liệu pháp hiện tại cho bệnh đa xơ cứng (MS) chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát tình trạng viêm dẫn đến tổn thương chất trắng. Trong số hơn 20 phương pháp điều trị đã được chấp thuận, kháng thể đơn dòng kháng CD20 đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm sự hình thành tổn thương và ngăn ngừa tái phát. Tuy nhiên, các liệu pháp này chỉ cho thấy thành công hạn chế trong việc ngăn chặn sự tiến triển của tình trạng khuyết tật. Với mục đích khám phá các phương pháp tiếp cận thay thế, Sanofi đã tài trợ cho một loạt các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của tolebrutinib trong việc ngăn ngừa tái phát ở những bệnh nhân mắc MS.
Đọc Tiếp >>>

Liệu pháp kháng IL-5, Mepolizumab, cho thấy triển vọng trong việc quản lý COPD


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 28 tháng 5 năm 2025
Picture
Viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan đóng vai trò quan trọng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) với interleukin-5 (IL-5) thúc đẩy quá trình trưởng thành và hoạt hóa ái toan. Nhằm đánh giá các phương pháp điều trị, GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của mepolizumab—một kháng thể đơn dòng kháng IL-5—trong việc kiểm soát COPD.
Đọc Tiếp >>>

Tamuzimod Giúp Giảm Triệu Chứng Viêm Loét Ruột Già


CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 23 tháng 5 năm 2025
Picture
Viêm mãn tính của biểu mô đại tràng là nguyên nhân gây ra viêm loét đại tràng, một tình trạng có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng trong thời gian dài. Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị khác nhau, nhưng nhiều phương pháp không ngăn ngừa được bệnh tái phát hoặc gây ra các tác dụng phụ không mong muốn. Để khám phá các lựa chọn điều trị mới, một nghiên cứu do Ventyx Biosciences tài trợ đã đánh giá tiềm năng của tamuzimod trong việc kiểm soát viêm loét đại tràng.
Đọc Tiếp >>>

Suy giảm tế bào B với Obinutuzumab và liệu pháp tiêu chuẩn trong viêm thận lupus​


CHỦ ĐỀ: Tiết Niệu, Dị Ứng & Miễn Dịch​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 12 tháng 5 năm 2025
Picture
Viêm thận lupus là một tình trạng tự miễn dịch nghiêm trọng trong đó hệ thống miễn dịch sản xuất ra các kháng thể nhầm lẫn nhắm vào các tế bào thận, làm suy yếu chức năng lọc của chúng. Mặc dù các liệu pháp mới như belimumab và voclosporin gần đây đã được các cơ quan quản lý tại Hoa Kỳ và Châu Âu chấp thuận, nhưng các phương pháp điều trị này đã cho thấy những hạn chế về kết quả lâm sàng. Do đó, vẫn còn nhu cầu cấp thiết về các lựa chọn điều trị thay thế. Với nguồn tài trợ từ Roche, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của obinutuzumab trong điều trị viêm thận lupus.
Đọc Tiếp >>>

Tezepelumab cho thấy triển vọng trong việc giảm polyp mũi và các triệu chứng của viêm xoang mãn tính


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 28 tháng 4 năm 2025
Picture
Viêm xoang mạn tính có polyp mũi thường được điều trị bằng glucocorticoid và liệu pháp sinh học nhắm vào các thành phần khác nhau của con đường viêm loại 2. Bởi vì các phương pháp điều trị hiện tại không mang lại hiệu quả, nên nhu cầu về các liệu pháp hoạt động thông qua các cơ chế thay thế trở nên cần thiết. Để giải quyết khoảng cách này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của tezepelumab trong điều trị tình trạng này.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị bệnh mề đay tự phát mãn tính bằng cách ngăn chặn giải phóng histamine bằng Remibrutinib


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 14 tháng 4 năm 2025
Picture
Mề đay tự phát mạn tính là một tình trạng dị ứng được biểu hiện bằng ngứa và nổi mề đay không thể đoán trước và không có tác nhân gây bệnh nào có thể xác định được. Phản ứng dị ứng này là kết quả của quá trình giải phóng hạt tế bào mast. Trong khi thuốc kháng histamin H1 thế hệ thứ hai là phương pháp điều trị được kê đơn phổ biến nhất, tuy nhiên, có tới 75% bệnh nhân được kê toa ở liều tối đa nhưng vẫn không mang lại hiệu quả cao. Novartis đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của remibrutinib - một chất ức chế BTK trong việc kiểm soát bệnh mề đay.
Đọc Tiếp >>>

Bổ sung vitamin D liều cao để kiểm soát và ngăn ngừa bệnh đa xơ cứng


CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 11 tháng 4 năm 2025
Picture
Ở những bệnh nhân mắc bệnh đa xơ cứng, nồng độ vitamin D thấp có liên quan đến nguy cơ tái phát tăng cao, gánh nặng bệnh tật lớn hơn và nhiều tổn thương não hơn. Vitamin D điều chỉnh hệ thống miễn dịch bằng cách giảm sự biệt hóa tế bào lympho và hạn chế sự di chuyển của các tế bào miễn dịch qua hàng rào máu não. Dựa trên giả thuyết này, một nghiên cứu do Bộ Y tế Pháp tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tiềm năng của vitamin D trong việc kiểm soát bệnh đa xơ cứng và ngăn ngừa tái phát.
Đọc Tiếp >>>

Kiểm soát ngứa và tổn thương ở bệnh nhân bị Prurigo Nodularis bằng Nemolizumab​


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 31 tháng 3 năm 2025
Picture
Bệnh Prurigo nodularis là một rối loạn viêm da do interleukin-31 gây ra, đặc trưng bởi tình trạng ngứa dữ dội dẫn đến gãi và có thể dẫn đến chảy máu và rối loạn giấc ngủ. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược Galderma đã nhằm đánh giá hiệu quả của nemolizumab -một chất đối kháng thụ thể IL-31 trong việc kiểm soát prurigo nodularis.
Đọc Tiếp >>>

Kiểm soát bệnh viêm loét đại tràng bằng cách chặn S1PR1 bằng Tamuzimod


CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 3 năm 2025
Picture
Viêm loét đại tràng là một tình trạng tự miễn dịch, trong đó các tế bào miễn dịch gây ra tình trạng viêm quá mức ở ruột già. Các tế bào này được dẫn đến mô bị viêm bằng một gradient sphingosine 1-phosphate. Mặc dù ức chế con đường này đã cho thấy hiệu quả trong điều trị bệnh đa xơ cứng, nhưng ức chế không chọn lọc có thể dẫn đến tỷ lệ mắc các tác dụng phụ cao hơn. Tamuzimod - một chất ức chế có mục tiêu hơn, gần đây đã được đánh giá trong một nghiên cứu của Lancet về khả năng kiểm soát viêm loét đại tràng.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá sự kết hợp của Baricitinib uống và liệu pháp quang trị UV-B trong việc kiểm soát bệnh bạch biến​


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 2 năm 2025
Picture
Bạch biến là một rối loạn tự miễn dịch trong đó tế bào T dương tính với CD8 tấn công các tế bào hắc tố sản xuất sắc tố ở lớp biểu bì, dẫn đến các mảng da trắng sữa. Quá trình này chịu ảnh hưởng của interferon-gamma và interleukin-13, và có thể được kiểm soát bằng các liệu pháp nhắm vào các protein Janus kinase (JAK) tham gia vào quá trình truyền tín hiệu. Một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ đã điều tra những lợi ích tiềm năng của việc kết hợp baricitinib đường uống - một chất ức chế JAK, với liệu pháp quang trị liệu UV-B để kiểm soát bệnh bạch biến.
Đọc Tiếp >>>

Kiểm soát bệnh hen suyễn tăng bạch cầu ái toan nặng bằng Depemokimab, thuốc ức chế Interleukin-5


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 27 tháng 1 năm 2025
Picture
Cytokine interleukin-5 đóng vai trò quan trọng trong việc làm trầm trọng bệnh hen suyễn bằng cách thúc đẩy sự phát triển và kích hoạt bạch cầu ái toan. Các kháng thể chẳng hạn như mepolizumab, ức chế đường truyền tín hiệu IL-5 đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh hen suyễn và sự phụ thuộc vào glucocorticoid. Depemokimab là một kháng thể có tác dụng cực dài mới có ái lực cao hơn với IL-5, hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh hen suyễn đã được đánh giá bởi một nghiên cứu do GlaxoSmithKline tài trợ.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Tulisokibart trong việc kiểm soát bệnh viêm loét đại tràng từ trung bình đến nặng


CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 4 tháng 11 năm 2024
Picture
Các nghiên cứu gần đây về bệnh sinh lý của viêm loét đại tràng đã phát hiện ra rằng cytokine TL1A đóng vai trò quan trọng trong việc làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Cytokine có thể tương tác với các thụ thể DR3 trên tế bào T hỗ trợ để khuếch đại tình trạng viêm loại 1 và loại 17. Tulisokibart là một kháng thể có thể liên kết với TL1A và công ty Merck đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá khả năng kiểm soát viêm loét đại tràng của kháng thể này.
Đọc Tiếp >>>

Thuốc Ức Chế TYK2 Dạng Uống Zasocitinib Cho Thấy Hiệu Quả Cao Trong Việc Điều Trị Bệnh Vẩy Nến Mảng Bám

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 13 tháng 9 năm 2024
Picture
Viêm da do bệnh vẩy nến được gây ra bởi interleukin 17 và tế bào T-helper 17. Mặc dù có một số phương pháp điều trị hiệu quả đã được thử nghiệm, nhưng không có nhiều lựa chọn điều trị dạng uống. Zasocitinib là một tác nhân ức chế TYK2 có thể dùng qua đường uống. Thuốc ức chế TYK2 bằng cách can thiệp vào quá trình chuyển hóa protein JAK. Một nghiên cứu do công ty dược Nimbus Discovery và Takeda tài trợ đã được tiến hành để tìm hiểu hiệu quả của zasocitinib trong việc kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
Đọc Tiếp >>>

So Sánh Sự Hiệu Quả Của Risankizumab và Ustekinumab Trong Việc Điều Trị Bệnh Crohn

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 30​ tháng 8 năm 2024
Picture
Do độc tính và độ hiệu quả chỉ ở mức trung bình của các liệu pháp nhắm vào TNF, các phương pháp điều trị thay thế như risankizumab và ustekinumab thường được sử dụng cho bệnh Crohn. Cả hai kháng thể đơn dòng đều nhắm mục tiêu vào interleukin 23 (IL-23), mặc dù theo những cách khác nhau: risankizumab nhắm mục tiêu cụ thể vào tiểu đơn vị p19 của IL-23, trong khi ustekinumab nhắm vào tiểu đơn vị p40, được chia sẻ bởi cả interleukin 12 (IL-12) và IL-23, do đó làm giảm nồng độ của cả hai cytokine. Để so sánh hiệu quả của risankizumab và ustekinumab trong việc kiểm soát bệnh Crohn, một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tài trợ bởi AbbVie.
Đọc Tiếp >>>

Tác Dụng của Kháng Thể Chống Interleukin-5 Benralizumab lên Viêm Thực Quản do Bạch Cầu Ưa Acid

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 23​ tháng 8 năm 2024
Picture
Viêm thực quản do bạch cầu ưa acid là một tình trạng viêm do tế bào T-helper loại 2 gây ra,  và bệnh có thể được điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton, glucocorticoid và kháng thể đơn dòng nhắm vào các tế bào và các đường truyền tín hiệu liên quan. Interleukin 5 đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt bạch cầu ưa acid, vì thế thụ thể của IL-5 là một mục tiêu điều trị. Benralizumab, nhắm vào các thụ thể IL-5, có thể giúp làm giảm kích thích bạch cầu ưa acid. Để khám phá tiềm năng này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của benralizumab trong việc kiểm soát viêm thực quản do bạch cầu ưa acid.
Đọc Tiếp >>>

Quản Lý Viêm Thực Quản Do Bạch Cầu Ưa Acid Ở Trẻ Em Bằng Dupilumab

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch,​ Tiêu Hóa, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 21​ tháng 8 năm 2024
Picture
Viêm thực quản do bạch cầu ưa acid là tình trạng viêm loại 2 do các cytokine như Interleukin-4 và Interleukin-13 gây ra. Ở trẻ em, tình trạng viêm có thể dẫn đến xơ hóa và hẹp thực quản, gây khó nuốt và ảnh hưởng đến sự phát triển. Dupilumab là kháng thể đơn dòng đã được sử dụng để điều trị hen suyễn và viêm da dị ứng bằng cách chặn đường truyền tín hiệu của IL-4 và IL-13. Do đó, Công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng của dupilumab trong việc kiểm soát viêm thực quản do bạch cầu ưa acid ở trẻ em.
Đọc Tiếp >>>

Tiềm năng của Felzartamab trong việc giảm đào thải ghép thận do kháng thể

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 12 tháng 8 năm 2024
Picture
Phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bao gồm glucocorticoid, thuốc đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài (LAMA) và thuốc chủ vận beta tác dụng kéo dài (LABA). Trong một số trường hợp, bệnh vẩn trở nên nặng hơn khi đã dùng liều tối đa của liệu pháp tiêu chuẩn. Dupilumab là một kháng thể đơn dòng có thể làm giảm tình trạng viêm loại 2 bằng cách can thiệp tính hiệu của interleukin-4 và interleukin-13. Vì COPD bị gây ra bởi viêm loại 2, công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá sự hiệu quả của dupilumab trong việc kiểm soát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Đọc Tiếp >>>

Tiềm năng của Felzartamab trong việc giảm đào thải ghép thận do kháng thể

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Tiết Niệu​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 9 tháng 8 năm 2024
Picture
Hiện tại, không có phương pháp điều trị được chấp thuận để ngăn ngừa đào thải thận ghép do kháng thể. CD38, một glycoprotein được có nhiều trên tế bào sản xuất kháng thể và tế bào natural killer (NK), là một mục tiêu điều trị đầy hứa hẹn. Việc ức chế CD38 có thể trung hòa các tế bào miễn dịch này và giảm tình trạng viêm. Felzartamab, một kháng thể nhắm vào CD38, đã được đánh giá trong việc giảm nguy cơ đào thải ghép thận qua một nghiên cứu tài trợ bởi công ty dược MorphoSys.
Đọc Tiếp >>>

So Sánh Baricitinib và Thuốc Ức Chế Yếu Tố Hoại Tử Khối U Trong Việc Điều Trị Viêm Khớp Dạng Thấp

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Xương Khớp
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 5 tháng 8 năm 2024
Picture
Thuốc ức chế yếu tố hoại tử khối u - tumor necrosis factor (TNF) - và thuốc ức chế protein Janus Kinase (JAK) thường được dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp; tuy nhiên, thuốc ức chế TNF thường được ưa chuộng hơn do tính khả dụng cao hơn và chi phí thấp hơn. Do đó, tổ chức European Alliance of Associations for Rheumatology đã ủng hộ việc sử dụng TNFi trước khi cân nhắc thuốc ức chế JAK. Mặc dù vậy, thuốc ức chế JAK như baricitinib mang lại những lợi thế lâm sàng, bao gồm thời gian bán hủy ngắn hơn và cách dùng thuận tiện hơn. Vì thế, công ty Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu so sánh baricitinib với thuốc ức chế TNF trong điều trị viêm khớp dạng thấp.
Đọc Tiếp >>>

Khả năng sử dụng liệu pháp miễn dịch ngoài da để tạo ra sự dung nạp ở trẻ em và thanh thiếu niên bị dị ứng sữa bò​

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Nhi Khoa​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2024
Picture
Mặc dù chất lượng cuộc sống của những người bị ảnh hưởng bởi dị ứng sữa bò bị giảm đáng kể nhưng hiện tại không có biện pháp can thiệp sinh học nào được phê duyệt ngoài việc phòng tránh. Việc tiếp xúc trực tiếp với chất gây dị ứng đã được thử nghiệm như một công cụ kiểm soát dị ứng đậu phộng. Một bài nghiên cứu được xuất bản gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra việc sử dụng liệu pháp miễn dịch dưới da có chứa chất gây dị ứng sữa để kiểm soát dị ứng sữa bò ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của Guselkumab trong điều trị bệnh vảy phấn

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 5 năm 2024
Picture
Bệnh vảy phấn đỏ nang lông là một tình trạng viêm hiếm gặp có cơ chế hoạt động của hệ miễn dịch tương tự với bệnh vẩy nến như interleukin-23 tăng cao và kích hoạt tế bào T-helper 17. Bệnh vẩy nến có thể được điều trị bằng guselkumab, một kháng thể có thể liên kết với IL-23p19, và công ty dược phẩm Janssen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị bệnh vảy phấn hồng.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của Omalizumab trong điều trị dị ứng nhiều loại thực phẩm

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2024
Picture
Dị ứng thực phẩm là một tình trạng phổ biến ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi, nhiều người trong số họ bị dị ứng với nhiều loại thực phẩm khác nhau. Hiện nay, chỉ có dị ứng đậu phộng mới có thể điều trị được bằng liệu pháp miễn dịch đường uống nhưng nó có liên quan đến nhiều tác dụng phụ và không thể giải quyết được nhiều loại dị ứng thực phẩm khác. Omalizumab là một kháng thể có thể vô hiệu hóa IgE và đã được phê duyệt để điều trị bệnh hen suyễn dị ứng và nổi mề đay. Vì vậy, Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá việc sử dụng Omalizumab trong điều trị nhiều loại dị ứng thực phẩm.
Đọc Tiếp >>>

Thuốc đối kháng thụ thể IL-23 mới cho thấy có triển vọng trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám

CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 29 tháng 3 năm 2024
Picture
Sự tương tác giữa CD40 và CD40L đóng vai trò then chốt trong việc kích hoạt hệ thống miễn dịch. Ở những người mắc bệnh đa xơ cứng, biểu hiện CD40L tăng cao sẽ thúc đẩy phản ứng tế bào lympho T mạnh mẽ và góp phần vào sự tiến triển của bệnh. Frexalimab là một kháng thể được tạo ra để bám vào CD40L và gây cản trở sự tương tác nêu trên với hứa hẹn sẽ giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một nghiên cứu gần đây đánh giá hiệu quả của Frexalimab trong việc kiểm soát bệnh đa xơ cứng đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Thuốc đối kháng thụ thể IL-23 mới cho thấy có triển vọng trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2024
Picture
Bệnh vẩy nến phát sinh từ phản ứng viêm do interleukin-23 (IL-23) điều phối; vì vậy các phương pháp điều trị hiện tại tập trung hướng vào cytokine này. Hiện nay có nhiều liệu pháp đang nhắm đến IL-23 được biết như là liệu pháp sinh học cần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da, tuy nhien, các liệu pháp này gây ra sự bất tiện trong việc điều trị. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của JNJ-77242113 - một chất đối kháng thụ thể IL-23 mới có thể dùng bằng đường uống trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Sibeprenlimab để chữa trị bệnh thận IgA​

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Đăng vào ngày 23 tháng 2 năm 2024
Picture
Bệnh thận IgA là nguy cơ hàng đầu dẫn đến bệnh viêm cầu thận. Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch của người bệnh sản xuất kháng thể IgA không có galactose mà các kháng thể khác có thể bám vào để hình thành các hợp thể mà cầu thận không đào thải được. Một nghiên cứu đã khám phá sự hiệu quả của Sibeprenlimab trong việc quản lý bệnh thận IgA. Thuốc hoạt động bằng cách ức chế protein APRIL, một protein quan trọng trong hoạt động miễn dịch của tế bào B.​
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của PF-07038124 dạng bôi ngoài da trong việc kiểm soát bệnh viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 9 tháng 2 năm 2024
Picture
Hiện nay, thuốc mỡ bôi ngoài da corticosteroid là phương pháp điều trị tại nhà được lựa chọn cho bệnh viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này có liên quan đến các tác dụng phụ toàn thân đáng kể. Phản ứng miễn dịch cơ bản trong những tình trạng này được thúc đẩy bởi các cytokine từ tế bào T trợ giúp loại 2, bao gồm IL-4, IL-13, TNF-alpha và các loại khác. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá tiềm năng của PF-07038124 - một chất ức chế phosphodiesterase-4 có khả năng phá vỡ sự khuếch đại tín hiệu nội bào trong điều trị viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám.
Đọc Tiếp >>>

Kéo dài thời gian điều trị Teplizumab để trì hoãn sự tiến triển của bệnh tiểu đường loại 1

CHỦ ĐỀ: ​Tiểu Đường & Nội Tiết, ​Dị Ứng & Miễn Dịch​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
Picture
Bệnh tiểu đường loại 1 biểu hiện thông qua sự tấn công tự miễn dịch vào các tế bào beta tuyến tụy chịu trách nhiệm sản xuất insulin. Vì vậy, việc làm suy giảm phản ứng miễn dịch này có thể có khả năng trì hoãn sự khởi phát của bệnh tiểu đường. Teplizumab là một kháng thể có khả năng liên kết với tế bào T CD3 và ức chế phản ứng của chúng đã nhận được sự chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm để điều trị ngắn hạn ở bệnh tiểu đường loại 1. Do đó, công ty dược phẩm sinh học Sanofi đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm khám phá khả năng kéo dài thời gian điều trị bằng Teplizumab để làm chậm thêm sự tiến triển của bệnh tiểu đường loại 1.​
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá vai trò của Barticinib trong việc giảm thiểu phản ứng tự miễn dịch và bảo tồn tế bào beta sản xuất insulin ở bệnh nhân mới mắc bệnh tiểu đường loại 1

CHỦ ĐỀ: ​Tiểu Đường & Nội Tiết, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 19 tháng 1 năm 2024
Picture
Các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường Loại 1 cần phải bổ sung insulin do tuyến tụy của họ không có khả năng tạo ra đủ insulin. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc bảo vệ các tế bào beta sản xuất insulin còn sót lại có thể giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của bệnh. Baricitinib, một chất ức chế JAK, có khả năng cản trở hoạt động phá hủy của tế bào T CD8 tự phản ứng. Do đó, một nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng của Baricitinib trong việc ngăn chặn các phản ứng tự phản ứng và bảo tồn các tế bào beta sản xuất insulin.​
Đọc Tiếp >>>

Điều tra sự hiệu quả của thuốc ức chế IL-33, Nemolizumab, trong việc điều trị bệnh ngứa sần cục (prurigo nodularis)

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​
Đăng vào ngày 22 tháng 11 năm 2023
Picture
Bệnh ngứa sần cục (prurigo nodularis), là một bệnh mang tính chất lâu dài. Triệu chứng của bệnh là kết quả của sự kích ứng của tế bào miễn dịch Th2 & Th17 và có thể được điều trị bởi tính chất kiềm chế IL-4 và IL-17 của Dupilumab. Vì tế bào Th2 sử dụng IL-33 trong quá trình gây viêm, các dược phẩm với khả năng ức chế IL-33 có thể được sử dụng để điều trị bệnh ngứa sần cục. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí New England Journal of Medicine đã điều tra khả năng chữa bệnh ngứa sần cục của thuốc ức chế IL-33, Nemolizumab.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá sự hiệu quả của Sarilumab trong việc điều trị polymyalgia rheumatica ở người lớn tuổi​

CHỦ ĐỀ: Xương Khớp, Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Đăng vào ngày 25 tháng 10 năm 2023
Picture
Polymyalgia rheumatica là một bệnh tự miễn dịch thường ảnh hưởng các cá nhân trên 50 tuổi. Tình trạng viêm của bệnh phụ thuộc trên cytokine interleukin-6 (IL-6). Hiện tại glucocorticoids như prednisone và methotrexate đang được sử dụng để điều trị bệnh này. Nhưng, thuốc có nhiều phản ứng phụ và không ngăn cản việc tái bệnh. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả và an toàn của kháng thể chống IL-6, Sarilumab, trong việc điều trị bệnh polymyalgia rheumatica.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả lâm sàng của việc sử dụng tế bào T CAR, Axicabtagene Ciloleucel, trong việc chữa trị ung thư lympho tế bào B lớn

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 16 tháng 8 năm 2023
Picture
Hóa trị liều cao và ghép tế bào gốc tự thân (HDT-ASCT) được biết đến là các phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư hạch tế bào B lớn. Tuy nhiên, chỉ một nửa số bệnh nhân đủ điều kiện để áp dụng phương pháp điều trị này. Đối với những người được điều trị bằng phương pháp HDT-ASCT, tỷ lệ khỏi bệnh chỉ là 20%. Đối với những bệnh nhân không thể điều trị bằng phương pháp này, thời gian sống sót trung bình chỉ là 4,4 tháng. Axicabtagene ciloleucel được tìm thấy như một lựa chọn trị liệu mới mang lại kết quả đầy hứa hẹn trong các cuộc thử nghiệm ban đầu. Vì vậy một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sử dụng nó để điều trị ung thư hạch tế bào B lớn.
Đọc Tiếp >>>

Pirtobrutinib, hợp chất ức chế BTK để chữa trị ung thư bạch cầu dòng lympho mãn tính

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 7 tháng 8 năm 2023
Picture
Việc sử dụng các hoạt chất ức chế BTK như ibrutinib và zanubrutinib là một trong những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính. Tuy nhiên, khả năng kháng lại các hoạt chất này có thể xuất hiện dưới dạng đột biến C481. Vì vậy, venetoclax có thể được sử dụng như liệu trình thay thế trong các trường hợp này. Tuy nhiên, việc sử dụng venetoclax lại đòi hỏi sự thận trọng trong việc gia tăng liều lượng trong môi trường điều trị nội trú. Gần đây, Pirtobrutinib, một chất ức chế BTK mới, đã được đánh giá để xem xét: liệu hoạt chất có thể sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu mãn tính, và kết quả đã được công bố trong bài nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng kháng thể chống IL-23, mirikizumab, để điều trị viêm loét đại tràng

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 31 tháng 7 năm 2023
Picture
Do hiệu ứng gây viêm của IL-23 trong viêm loét đại tràng, các dược phẩm có tính ức chế IL-23 đã được thử nghiệm và sử dụng tại Hoa Kỳ. IL-23 bao gồm hai đơn vị riêng biệt: p40 và p19, tồn tại duy nhất cho IL-23. Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 trước đó đã khẳng định tiềm năng của Mirikizumab - một loại kháng thể nhắm vào đơn vị p19 của IL-23. Do đó, công ty dược phẩm Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 để đánh giá độ hiệu quả và an toàn của Mirikizumab trong điều trị viêm đại tràng loét.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị bệnh Crohn với chất ức chế protein Jak, Upadacitinib​

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2023
Picture
Nhiều tế bào miễn dịch sử dụng con đường JAK-STAT để gây ra phản ứng tiền viêm; do đó, việc ức chế các protein này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh Crohn. Upadacitinib có khả năng gây ức chế protein Jak. Hơn nữa, Upadacitinib đang được sử dụng để điều trị viêm da dị ứng và viêm khớp dạng thấp. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của upadacitinib trong điều trị bệnh Crohn.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị viêm khớp dạng thấp bằng kháng thể đơn dòng Peresolimab

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Xương Khớp​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi
Đăng vào ngày 19 tháng 6 năm 2023
Picture
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh lý viêm khớp mạn tính với cơ chế tự miễn dịch; gây ra bởi phản ứng viêm không được kiểm soát chống lại các mô trong khớp. Do đó, viêm khớp dạng thấp có thể được kiểm soát bằng cách ức chế các tế bào tự miễn dịch. PD-1 là một thụ thể được biểu hiện bởi nhiều tế bào lympho; sự kích hoạt của nó sẽ gây ức chế lên sự kích hoạt của tế bào. Do đó, công ty dược phẩm Eli Lilly, đã tài trợ cho một nghiên cứu trong việc sử dụng peresolimab, một loại kháng thể có thể kích thích PD-1, để điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng kích ứng miễn dịch ngoài da để giảm độ mẫn cảm của các trẻ bị dị ứng đậu phộng

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2023
Picture
Kiểm soát dị ứng với đậu phộng ở bệnh nhi gặp rất nhiều khó khăn vì các trẻ ít có khả năng nhận dạng và tránh được chất gây dị ứng. Trong những trường hợp xấu, trẻ có thể bị sốc phản vệ và mất mạng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu tiếp xúc với một liều nhỏ chất gây dị ứng đậu phộng có thể làm giảm độ mẫn cảm của trẻ bị dị ứng và giảm bớt tính nghiêm trọng của bệnh lý.
Đọc Tiếp >>>

Sự ảnh hưởng của corticosteroids dạng xịt mũi lên viêm xoang mãn tính và hệ vi khuẩn hô hấp trên​

CHỦ ĐỀ: Hô Hấp, Dị Ứng & Miễn Dịch, Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 24 tháng 5 năm 2023
Picture
Với mục tiêu làm giảm viêm nhiễm liên tục do bệnh lý viêm xoang mãn tính mang lại, các bác sĩ thường kê các thuốc thông mũi gốc corticosteroid. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của những loại thuốc này đối với trẻ em. Ngoài ra, tác động của thuốc thông mũi gốc corticosteroid đối với hệ vi sinh ở mũi vẫn chưa được làm sáng tỏ. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học Mỹ đã điều tra tác động của thuốc thông mũi gốc corticosteroid đối với chất lượng cuộc sống của trẻ em mắc bệnh viêm xoang mạn tính.
Đọc Tiếp >>>

Chữa trị bệnh vẩy nến đỏ toàn thân bằng kháng nguyên đơn dòng dupliumab

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 8 tháng 5 năm 2023
Picture
Bệnh vẩy nến đỏ toàn thân là một bệnh lý nghiêm trọng với 90% bề mặt cơ thể của bệnh nhân nổi ban đỏ và cảm giác ngứa. Corticosteroids dạng thoa thường để chữa trị bệnh vẩy nến đỏ toàn thân, tuy nhiên, việc áp dụng cho toàn cơ thể lại thiếu tính khả thi. Mặc khác, dupliumab là một loại kháng thể đơn dòng đóng vai trò trong việc kiểm soát khả năng gây viêm của cytokines IL-4 và IL-13. Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Hiệp hội y tế Hoa Kỳ đang thử nghiệm khả năng chữa trị bệnh viêm da dị ứng toàn thân với dupliumab. 
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng kháng thể đơn dòng vedolizumab để điều trị viêm túi lệ mãn tính

CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2023
Picture
Hiện nay, viêm loét tá tràng có thể được chữa trị bằng phẫu thuật cắt bỏ trực tràng và nối túi hậu môn (RPC-IPAA). Tuy nhiên, di chứng sau phẫu thuật thường gặp là viêm túi lệ mãn tính. Vedolizumab là loại kháng thể đơn dòng có chức năng bám vào thụ thể α4β7 và giảm viêm ở đường tiêu hóa. Vì thế, một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty Takeda đã tiến hành thử nghiệm khả năng điều trị bệnh viêm túi lệ mãn tính của hoạt chất vedolizumab.
Đọc Tiếp >>>

Kết hợp Lebrikizumab và Corticosteroid dạng thoa để điều trị dị ứng da mức độ vừa và nặng

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 24 tháng 3 năm 2023
Picture
Viêm da dị ứng được điều trị bằng corticosteroid thoa ngoài da, nhưng độ hiệu quả của thuốc không đồng điều. Mức độ nghiêm trọng của tình trạng viêm có quan hệ nghịch với mức độ sản xuất cytokine Interleukin-13 gây viêm. Lebrikizumab là một kháng thể có thể liên kết và vô hiệu hóa Interleukin-13. Vì vậy, công ty dược Eli Lilly tài trợ nghiên cứu điều tra về độ hiệu quả khi sử dụng lebrikizumab để điều trị viêm da dị ứng.
Đọc Tiếp >>>

Upadacitinib và Dupilumab trong việc điều trị viêm da dị ứng

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Da Liễu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 2 tháng 11 năm 2022
Picture
Interleukin-4 là tín hiệu chủ đạo trong bệnh viêm da dị ứng. Vì thế, kháng thể dupilumab, với khả năng ức chế thụ thể IL-4 có thể được sử dụng để điều trị. Nhưng do tính hiệu quả thấp, các loại thuốc khác như upadacitinib đang được nghiên cứu để thay thế. Thuốc có tầm hoạt động rộng hơn do khả năng ức chế protein JAK và đang được sử dụng trong việc chữa trị bệnh viêm thấp khớp. Một nghiên cứu so sánh giữa hai loại thuốc đã công bố kết quả trên tạp chí y học Journal of the American Medical Society - Dermatology.
Đọc Tiếp >>>

Dùng kem làm mềm da để ngăn ngừa viêm da dị ứng ở trẻ sơ sinh

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Da Liễu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 5 tháng 10 năm 2022
Picture
Trong các năm gần đây, tỷ lệ các bệnh dị ứng ở Việt Nam gia tăng. Vì thế, các chuyên gia y tế cần được cập nhật với các thông tin mới nhất về các liệu trình điều trị và các phương pháp dự phòng cho các hội chứng này. Một nghiên cứu gần đây đã khảo sát độ hiệu quả của việc sử dụng các loại kem làm mềm da để ngăn ngừa bệnh viêm da dị ứng ở trẻ sơ sinh.
Đọc Tiếp >>>

Sự hiệu quả của việc sử dụng Albuterol và Budesonide dạng khí trong việc quản lý bệnh hen suyễn​

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 7 tháng 9 năm 2022
Picture
Albuterol, còn được biết với tên Salbutamol, là một loại thuốc làm giãn phế quản dạng hít (SABA) thường được dùng để giảm cơn hen suyễn. Thêm vào đó, tổ chức Global Initiative for Asthma khuyến cáo sử dụng corticosteroid dạng hít (ICS) như budesonide để quản lý hen suyễn. Một nghiên cứu giai đoạn 3 được thực hiện bởi bác sĩ Alberto Papi và Bradley E. Chipps để điều tra sự hiệu quả của việc chỉ dùng albuterol hoặc kết hợp với budesonide trong việc ngăn ngừa lên cơn hen suyễn nặng.
Đọc Tiếp >>>

So sánh sự hiệu quả của Ublituximab với Teriflunomide trong việc chữa trị bệnh đa xơ cứng

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 5 tháng 9 năm 2022
Picture
Bệnh đa xơ cứng bị gây ra khi hệ miễn dịch của cơ thể tự tấn công các bao myelin bao quanh tế bào thần kinh. Vì hoạt động của tế bào B quan trọng với quá trình tự miễn dịch, nhiều kháng thể cụ thể với tế bào B đã được cho phép trong việc chữa trị. Bài nghiên cứu sau so sánh sự hiệu quả của việc sử dụng kháng thể Ublituximab, cụ thể với thụ thể CD20 trên tế bào B, với Teriflunomide.
Đọc Tiếp >>>

Sự hiệu quả của kháng thể Litifilimab trong việc điều trị Lupus ban đỏ ngoài da

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 10 tháng 8 năm 2022
Picture
Lupus ban đỏ ngoài da (CLE) là một bệnh tự miễn dịch khi hệ miễn dịch tấn công tế bào da khỏe mạnh. Các tổn thương bị gây ra chủ yếu bởi tế bào T CD8 dương tính và các cytokines được sản xuất bởi tế bào tua plasmacytoid. Các nghiên cứu trước đã tìm thấy rằng mức độ nghiêm trọng của bên Lupus ban đỏ ngoài da có liên quan với lượng cytokine Interferon loại I được sản xuất bởi tế bào tua plasmacytoid. Gần đây một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 công bố rằng Litifilimab có khả năng giúp giảm triệu chứng ngoài da của CLE.
Đọc Tiếp >>>
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues