|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 6 năm 2025
|
|
Hiện tại, không có phương pháp điều trị nào được chấp thuận cho tình trạng viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa. Với tình trạng này có liên quan chặt chẽ đến béo phì và tiểu đường, một nghiên cứu đã được Novo Nordisk tài trợ để kiểm tra việc sử dụng semaglutide trong việc kiểm soát sức khỏe gan ở những bệnh nhân bị xơ gan và viêm gan nhiễm mỡ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 6 năm 2025
|
|
Những người mắc bệnh tiểu đường loại 2 có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn. Nghiên cứu trước đây kiểm tra khả năng kiểm soát đường huyết của semaglutide - một chất chủ vận thụ thể GLP-1, được phát hiện ra rằng nó cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Để khám phá mối quan hệ này một cách cụ thể, Novo Nordisk đã tài trợ cho một nghiên cứu để kiểm tra tác dụng của semaglutide đối với sức khỏe tim mạch ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 6 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng viêm gan B mãn tính là một yếu tố nguy cơ đã được xác định rõ ràng đối với bệnh xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Mặc dù thuốc kháng vi-rút có hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh, nhưng các hướng dẫn điều trị hiện tại thường khuyến cáo nên trì hoãn việc bắt đầu cho đến khi phát hiện ra các men gan tăng cao. Tuy nhiên, dữ liệu quan sát gần đây cho thấy chỉ riêng tình trạng nhiễm vi-rút trong máu có thể góp phần làm tăng nguy cơ ung thư, bất kể mức độ men gan. Để ứng phó với vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc đã hợp tác với Gilead tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá lợi ích của việc can thiệp kháng vi-rút sớm ở những bệnh nhân có mức men gan bình thường.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 6 năm 2025
|
|
Pseudomonas aeruginosa là một tác nhân gây bệnh vi khuẩn phổ biến và các bệnh nhiễm trùng do các chủng đa kháng thuốc gây ra mối đe dọa đáng kể về mặt lâm sàng. Mặc dù các phối hợp kháng sinh ceftolozane–tazobactam và ceftazidime–avibactam đã cho thấy hiệu quả chống lại các chủng kháng thuốc, nhưng vẫn còn hạn chế về dữ liệu so sánh hiệu quả của chúng trong các tình huống lâm sàng khác nhau. Để giải quyết khoảng cách này và hỗ trợ việc tinh chỉnh các hướng dẫn điều trị, một nghiên cứu do Merck tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả tương đối của chúng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 6 năm 2025
|
|
Tăng huyết áp động mạch phổi (PAH), nếu không được điều trị hoặc kiểm soát kém, có thể tiến triển thành suy thất phải và cuối cùng dẫn đến tử vong. Mặc dù các liệu pháp hiện tại có thể làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, nhưng chúng chưa chứng minh được khả năng ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như nhập viện, ghép phổi hoặc tử vong. Để giải quyết nhu cầu chưa được đáp ứng này, một nghiên cứu do Merck tài trợ đã điều tra việc sử dụng sotatercept như một liệu pháp tiềm năng có thể thay đổi bệnh cho PAH.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 18 tháng 6 năm 2025
|
|
Các phương pháp điều trị viêm gan C có hiệu quả ở người lớn—chẳng hạn như pegylated interferon và ribavirin—có liên quan đến các biến chứng về phát triển ở trẻ em. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng thuốc kháng vi-rút, nhưng tính an toàn lâu dài của các liệu pháp này ở trẻ em vẫn chưa chắc chắn. Để giải quyết khoảng cách này, một nghiên cứu do Gilead Sciences tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả lâu dài của sofosbuvir ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 6 năm 2025
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ sơ sinh. Nirsevimab - một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein RSV F để ngăn chặn sự hợp nhất của virus, những nghiên cứu trước đây đã cho thấy hiệu quả trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng. Một nghiên cứu gần đây do AstraZeneca và Sanofi tài trợ hiện đã báo cáo về tác dụng bảo vệ lâu dài của nirsevimab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 13 tháng 6 năm 2025
|
|
Thuốc can thiệp vào tín hiệu acetylcholine có khả năng dẫn đến suy giảm nhận thức. Các tác nhân kháng muscarinic tác dụng kéo dài như tiotropium, thường được kê đơn cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), có thể ảnh hưởng lên đường truyền tín hiệu acetylcholine. Nhưng tác động của tiotropium lên chức năng thần kinh vẫn chưa được hiểu rõ. Các nghiên cứu trước đây về chủ đề này bị hạn chế do thiết kế kém. Gần đây, một nghiên cứu do Hiệp Hội Não Canada tài trợ đã xem xét liệu việc sử dụng tiotropium có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 6 năm 2025
|
|
Việc mất các tế bào thần kinh sản xuất orexin ở vùng dưới đồi là nguyên nhân chính gây ra chứng ngủ rũ, đặc biệt là loại 1. Trong khi các phương pháp điều trị hiện có tập trung vào việc làm giảm các triệu chứng—chẳng hạn như thúc đẩy sự tỉnh táo vào ban ngày và giảm chứng mất trương lực cơ—thì chúng không nhắm vào tình trạng thiếu hụt orexin tiềm ẩn. Những nỗ lực trước đây nhằm phát triển các chất chủ vận thụ thể orexin đã bị cản trở do nhu cầu truyền tĩnh mạch và lo ngại về độc tính đối với gan. Với sự tài trợ từ Takeda, một nghiên cứu mới đã khám phá việc sử dụng oveporexton, một chất chủ vận orexin thấm qua hàng rào máu não, dùng đường uống nhằm điều trị chứng ngủ rũ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 6 năm 2025
|
|
Các liệu pháp hiện tại cho bệnh đa xơ cứng (MS) chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát tình trạng viêm dẫn đến tổn thương chất trắng. Trong số hơn 20 phương pháp điều trị đã được chấp thuận, kháng thể đơn dòng kháng CD20 đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm sự hình thành tổn thương và ngăn ngừa tái phát. Tuy nhiên, các liệu pháp này chỉ cho thấy thành công hạn chế trong việc ngăn chặn sự tiến triển của tình trạng khuyết tật. Với mục đích khám phá các phương pháp tiếp cận thay thế, Sanofi đã tài trợ cho một loạt các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của tolebrutinib trong việc ngăn ngừa tái phát ở những bệnh nhân mắc MS.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 6 năm 2025
|
|
Bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em thường biểu hiện các triệu chứng nghiêm trọng hơn và tiên lượng kém hơn so với người lớn. Mặc dù có các phương pháp điều trị chống loạn thần hiệu quả dành cho trẻ em và thanh thiếu niên, nhưng các tác nhân này có xu hướng mang lại rủi ro cao hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi. Các nghiên cứu gần đây cho thấy ngoài dopamine, các chất dẫn truyền thần kinh monoamine khác—như norepinephrine và serotonin—cũng góp phần vào bệnh sinh lý của bệnh tâm thần phân liệt. Với sự tài trợ từ Otsuka Pharmaceutical, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng brexpiprazole trong việc kiểm soát bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 6 năm 2025
|
|
Mặc dù sử dụng nhiều phác đồ thuốc,nhưng nhiều bệnh nhân bị tăng huyết áp vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp. Nghiên cứu mới cho thấy rối loạn aldosterone có thể là động lực chính gây ra tình trạng tăng huyết áp kháng trị. Với nguồn tài trợ từ Mineralys Therapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá lorundrostat - một chất ức chế aldosterone synthase nhằm kiểm soát huyết áp ở nhóm dân số này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 6 năm 2025
|
|
Bệnh lao vẫn đang là gánh nặng lớn đối với sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam và trên toàn thế giới, gây ra hơn 1 triệu ca tử vong mỗi năm. Mặc dù vắc-xin BCG đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ để ngăn ngừa nhiễm trùng, nhưng tác dụng bảo vệ của nó giảm dần theo thời gian. Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến việc tìm hiểu liệu việc tiêm lại vắc-xin BCG có thể phục hồi khả năng miễn dịch hay không. Với sự hỗ trợ của Quỹ Bill & Melinda Gates, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của việc tiêm lại vắc-xin BCG đối với công tác phòng ngừa bệnh lao.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 5 năm 2025
|
|
Chiến lược chống đông máu tối ưu cho bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch não vẫn là chủ đề tranh luận hiện nay. Trong khi thuốc chống đông bằng đường uống trực tiếp tiện lợi hơn cho bệnh nhân và có tỷ lệ xuất huyết nội sọ thấp hơn, nhưng thuốc đối kháng vitamin K vẫn tiết kiệm chi phí hơn. Ngoài ra, thuốc đối kháng vitamin K có liên quan đến nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa thấp hơn và được ưa chuộng ở những bệnh nhân có van tim cơ học. Do thiếu sự đồng thuận giữa hai loại thuốc, một nghiên cứu quan sát đa quốc gia đã được thực hiện với sự hỗ trợ của Quỹ Huyết khối Hà Lan.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 5 năm 2025
|
|
Viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan đóng vai trò quan trọng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) với interleukin-5 (IL-5) thúc đẩy quá trình trưởng thành và hoạt hóa ái toan. Nhằm đánh giá các phương pháp điều trị, GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của mepolizumab—một kháng thể đơn dòng kháng IL-5—trong việc kiểm soát COPD.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 5 năm 2025
|
|
Lipoprotein(a) [Lp(a)] là thành phần chính trong quá trình hình thành các hạt LDL vận chuyển cholesterol. Nồng độ Lp(a) trong huyết thanh tăng cao có liên quan đến nguy cơ tử vong do tim mạch cao hơn. Nhằm giải quyết yếu tố nguy cơ này, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của lepodisiran, một liệu pháp mới nhằm mục đích hạ thấp mức Lp(a).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 5 năm 2025
|
|
Viêm mãn tính của biểu mô đại tràng là nguyên nhân gây ra viêm loét đại tràng, một tình trạng có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng trong thời gian dài. Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị khác nhau, nhưng nhiều phương pháp không ngăn ngừa được bệnh tái phát hoặc gây ra các tác dụng phụ không mong muốn. Để khám phá các lựa chọn điều trị mới, một nghiên cứu do Ventyx Biosciences tài trợ đã đánh giá tiềm năng của tamuzimod trong việc kiểm soát viêm loét đại tràng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 5 năm 2025
|
|
Hút thuốc là một trong những yếu tố nguy cơ phổ biến nhất gây ra hàng triệu ca tử vong có thể phòng ngừa được mỗi năm. Mặc dù hiện nay có một số phương pháp hỗ trợ cai thuốc lá như bupropion và varenicline, nhưng hiệu quả lâu dài còn hạn chế và các tác dụng phụ đáng chú ý của chúng làm nổi bật nhu cầu về các phương pháp thay thế mới. Được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ từ công ty công nghệ sinh học Achieve Life Sciences, một thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của cytisinicline trong việc giảm cơn thèm nicotine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 5 năm 2025
|
|
Mặc dù đối với người lớn khỏe mạnh, bệnh cúm được xem là “ốm vặt”. Tuy nhiên, cúm có thể gây ra mối đe dọa nghiêm trọng, thậm chí tử vong, đối với trẻ em, người già và những người bị suy giảm miễn dịch. Mỗi mùa cúm thường liên quan đến sự lưu hành của bốn chủng cúm riêng biệt, tất cả đều có trong vắc-xin được cập nhật hàng năm. Tuy nhiên, vì công thức vắc-xin dựa trên mô hình dự đoán về chủng nào sẽ chiếm ưu thế nên hiệu quả của vắc-xin thay đổi theo từng năm và có thể không tối ưu. Mặc dù có thuốc kháng vi-rút cho bệnh cúm, nhưng có rất ít bằng chứng kết luận ủng hộ khả năng giảm lây truyền của chúng. Để tìm ra các lựa chọn mới, Roche đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tiềm năng của baloxavir trong việc giảm khả năng lây truyền cúm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 5 năm 2025
|
|
Bệnh nhân bị giãn phế quản thường có biểu hiện ho mãn tính và sản xuất đờm quá mức. Sự suy giảm dần dần chức năng phổi liên quan đến căn bệnh này chủ yếu là do tình trạng viêm do bạch cầu trung tính và tổn thương màng nhầy. Các hướng dẫn lâm sàng hiện tại thường khuyến nghị sử dụng các tác nhân hoạt hóa chất nhầy để làm giảm các triệu chứng và kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn. Gần đây, một nghiên cứu do Insmed tài trợ và được công bố trên Tạp chí Y học New England đã xem xét việc sử dụng brensocatib - một loại thuốc nhằm mục đích kiểm soát tình trạng giãn phế quản bằng cách ức chế hoạt động của bạch cầu trung tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 5 năm 2025
|
|
Kể từ khi lây lan toàn cầu trong đợt bùng phát năm 2022, bệnh đậu mùa khỉ đã được kiểm soát hiệu quả ở hầu hết các nơi trên thế giới. Tuy nhiên, các trường hợp vẫn tiếp tục gia tăng ở Châu Phi cận Sahara, đặc biệt là ở Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC). Hiện tại, không có phương pháp điều trị kháng vi-rút cụ thể nào được chấp thuận cho bệnh đậu mùa khỉ. Để ứng phó với gánh nặng ngày càng tăng, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ (NIAID) đã hợp tác với Bộ Y tế Congo để nghiên cứu hiệu quả của tecovirimat như một phương pháp điều trị nhiễm trùng đậu mùa khỉ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 5 năm 2025
|
|
Viêm thận lupus là một tình trạng tự miễn dịch nghiêm trọng trong đó hệ thống miễn dịch sản xuất ra các kháng thể nhầm lẫn nhắm vào các tế bào thận, làm suy yếu chức năng lọc của chúng. Mặc dù các liệu pháp mới như belimumab và voclosporin gần đây đã được các cơ quan quản lý tại Hoa Kỳ và Châu Âu chấp thuận, nhưng các phương pháp điều trị này đã cho thấy những hạn chế về kết quả lâm sàng. Do đó, vẫn còn nhu cầu cấp thiết về các lựa chọn điều trị thay thế. Với nguồn tài trợ từ Roche, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của obinutuzumab trong điều trị viêm thận lupus.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 5 năm 2025
|
|
Các hướng dẫn lâm sàng ở cả Hoa Kỳ và Châu Âu đều khuyến cáo sử dụng chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) cho bệnh nhân suy tim, bất kể tình trạng tiểu đường. Tuy nhiên, những cá nhân mắc bệnh van tim nặng cần phải cấy ghép van động mạch chủ qua ống thông phần lớn đã bị loại khỏi các nghiên cứu này. Để giải quyết khoảng trống này, một nghiên cứu do Viện Y tế Carlos III ở Tây Ban Nha tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng chất ức chế SGLT2 ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch chủ nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 5 năm 2025
|
|
Bệnh nhân ung thư có nguy cơ huyết khối tắc mạch tĩnh mạch cao hơn đáng kể so với những người khỏe mạnh. Mặc dù nhiều hướng dẫn hiện tại khuyến nghị tiếp tục dùng thuốc chống đông trong suốt thời gian mắc ung thư, nhưng liệu pháp kéo dài làm tăng nguy cơ biến chứng chảy máu. Để tìm ra liều tối ưu, một nghiên cứu do Bristol-Myers Squibb tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các chế độ dùng thuốc apixaban khác nhau trong việc ngăn ngừa huyết khối tắc mạch ở bệnh nhân ung thư.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 5 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới cực kỳ phổ biến với khoảng một nửa số phụ nữ trên toàn thế giới báo cáo ít nhất một lần trong đời. Mặc dù những bệnh nhiễm trùng này thường có thể kiểm soát được bằng thuốc kháng sinh, nhưng việc sử dụng sai trong quá khứ đã góp phần làm gia tăng vấn đề kháng thuốc kháng sinh, làm nổi bật nhu cầu về các phương pháp điều trị mới đó là Gepotidacin. GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của nó với nitrofurantoin trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 5 năm 2025
|
|
Mặc dù số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu đang giảm, nhưng số ca nhiễm ở nam giới quan hệ tình dục với nam giới và phụ nữ chuyển giới lại đang gia tăng. Dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) là một phương pháp hiệu quả để ngăn ngừa lây truyền HIV, nhưng cần phải tuân thủ chặt chẽ để duy trì hiệu quả. Để khám phá các chiến lược phòng ngừa thay thế, một nghiên cứu do Gilead Sciences tài trợ đã đánh giá việc sử dụng lenacapavir để phòng ngừa HIV.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 4 năm 2025
|
|
Ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen (ER) có thể được kiểm soát bằng thuốc đối kháng ER như fulvestrant. Tuy nhiên, yêu cầu tiêm bắp của fulvestrant làm phức tạp quá trình điều trị, đòi hỏi phải đến phòng khám và hạn chế sự tiện lợi của thuốc. Hơn nữa, hiệu quả của thuốc giảm ở những bệnh nhân có đột biến ESR1 trong thụ thể estrogen. Imlunestrant là thuốc đối kháng ER mới hơn và có dạng uống. Để đánh giá hiệu quả của thuốc, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu kết hợp imlunestrant với abemaciclib trong việc kiểm soát ung thư vú dương tính với ER, âm tính với HER2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 4 năm 2025
|
|
Viêm xoang mạn tính có polyp mũi thường được điều trị bằng glucocorticoid và liệu pháp sinh học nhắm vào các thành phần khác nhau của con đường viêm loại 2. Bởi vì các phương pháp điều trị hiện tại không mang lại hiệu quả, nên nhu cầu về các liệu pháp hoạt động thông qua các cơ chế thay thế trở nên cần thiết. Để giải quyết khoảng cách này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của tezepelumab trong điều trị tình trạng này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 4 năm 2025
|
|
Lipoprotein(a) đóng vai trò quan trọng trong việc đóng gói và vận chuyển cholesterol trong máu thông qua lipoprotein tỷ trọng thấp. Nồng độ lipoprotein(a) tăng cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch bằng cách thúc đẩy sự tích tụ mảng bám. Với nguồn tài trợ từ Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Muvalaplin trong việc kiểm soát nồng độ lipoprotein(a).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 4 năm 2025
|
|
Insulin từ lâu đã là liệu pháp tiêu chuẩn để kiểm soát lượng đường trong máu ở phụ nữ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ. Trong khi các thuốc uống như metformin và glyburide cung cấp một giải pháp thay thế thuận tiện hơn do dễ sử dụng, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đã khuyến cáo không nên sử dụng chúng vì dữ liệu về tính an toàn lâu dài đối với khả năng sinh sản còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ cho một nghiên cứu so sánh hiệu quả của thuốc hạ đường huyết dạng uống với insulin để kiểm soát bệnh tiểu đường thai kỳ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 4 năm 2025
|
|
Viêm âm đạo do vi khuẩn được đánh dấu bằng sự phá vỡ hệ vi khuẩn âm đạo bình thường và các nghiên cứu trước đây cho thấy hệ vi khuẩn dương vật của bạn tình nam có thể dự đoán sự xuất hiện của viêm âm đạo do vi khuẩn ở bạn tình nữ. Được tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu việc điều trị cho bạn tình nam có thể giúp ngăn ngừa tái phát ở phụ nữ hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 18 tháng 4 năm 2025
|
|
Xơ gan mất bù là giai đoạn tổn thương gan tiến triển nhất, biểu hiện bằng tình trạng sẹo rộng và chức năng gan suy giảm đáng kể. Tình trạng này có thể tiến triển thành suy gan cấp tính và tử vong và hiện tại không có liệu pháp nào có thể ngăn ngừa tình trạng này tiến triển. Được tài trợ bởi Liên minh Châu Âu, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng simvastatin và rifaximin trong việc kiểm soát xơ gan.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 4 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng huyết có thể được điều trị bằng kháng sinh, nhưng có rất ít sự đồng thuận về thời gian điều trị tối ưu. Phác đồ ngắn hạn 7 ngày có thể không đủ để tiêu diệt vi khuẩn và có thể dẫn đến việc lựa chọn các chủng kháng thuốc. Trong khi phác đồ dài hơn, 14 ngày có thể là quá mức - dẫn đến các tác dụng phụ, nhiễm trùng thứ cấp, tăng áp lực kháng thuốc đối với các tác nhân không gây bệnh và sử dụng tài nguyên không cần thiết. Để trả lời câu hỏi này, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm xác định thời gian điều trị tối ưu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 4 năm 2025
|
|
Mề đay tự phát mạn tính là một tình trạng dị ứng được biểu hiện bằng ngứa và nổi mề đay không thể đoán trước và không có tác nhân gây bệnh nào có thể xác định được. Phản ứng dị ứng này là kết quả của quá trình giải phóng hạt tế bào mast. Trong khi thuốc kháng histamin H1 thế hệ thứ hai là phương pháp điều trị được kê đơn phổ biến nhất, tuy nhiên, có tới 75% bệnh nhân được kê toa ở liều tối đa nhưng vẫn không mang lại hiệu quả cao. Novartis đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của remibrutinib - một chất ức chế BTK trong việc kiểm soát bệnh mề đay.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 4 năm 2025
|
|
Ở những bệnh nhân mắc bệnh đa xơ cứng, nồng độ vitamin D thấp có liên quan đến nguy cơ tái phát tăng cao, gánh nặng bệnh tật lớn hơn và nhiều tổn thương não hơn. Vitamin D điều chỉnh hệ thống miễn dịch bằng cách giảm sự biệt hóa tế bào lympho và hạn chế sự di chuyển của các tế bào miễn dịch qua hàng rào máu não. Dựa trên giả thuyết này, một nghiên cứu do Bộ Y tế Pháp tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tiềm năng của vitamin D trong việc kiểm soát bệnh đa xơ cứng và ngăn ngừa tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 4 năm 2025
|
|
Béo phì có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của bệnh tiểu đường loại 2, một tình trạng được đánh dấu bằng rối loạn chức năng tế bào beta đáng kể và kháng insulin. Kiểm soát cân nặng—cho dù thông qua các can thiệp dược lý hay thay đổi lối sống—đã được chứng minh là có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nhiều nghiên cứu đã nêu rõ lợi ích giảm cân của tirzepatide và một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ đã khám phá tiềm năng của nó trong việc điều trị béo phì và ngăn ngừa bệnh tiểu đường.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 4 năm 2025
|
|
Mặc dù vắc-xin COVID-19 mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên, những cá nhân bị suy giảm miễn dịch không thể hưởng lợi từ khả năng bảo vệ của chúng. Để giải quyết vấn đề này, phương pháp trị liệu hiện nay là các kết hợp kháng thể như tixagevimab và cilgavimab - nhắm vào protein gai của vi-rút. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các biến thể kháng thuốc đã tạo ra nhu cầu về các phương pháp điều trị mới. Được tài trợ bởi AstraZeneca, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng sipavibart trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 4 năm 2025
|
|
Viêm âm đạo do vi khuẩn là tình trạng phổ biến mà nhiều phụ nữ gặp phải. Mặc dù có thể điều trị bằng thuốc kháng sinh, nhưng tình trạng này thường xuyên tái phát và nếu không được kiểm soát hiệu quả, tình trạng này có thể dẫn đến nhiễm trùng thứ phát và các biến chứng sinh sản sau đó, gây ra gánh nặng đáng kể về thể chất và tinh thần. Với sự tài trợ bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng men vi sinh trong âm đạo để ngăn ngừa viêm âm đạo do vi khuẩn tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 4 năm 2025
|
|
Thiếu hụt acetylcholine có liên quan đến bệnh Parkinson và có liên quan đến việc tăng biến thiên thời gian sải chân và nguy cơ té ngã cao hơn. Thông thường, acetylcholine được giải phóng vào khe synap để kích hoạt các tế bào thần kinh lân cận và tín hiệu của nó bị chấm dứt bởi acetylcholinesterase - làm thoái hóa chất dẫn truyền thần kinh. Tuy nhiên, thuốc ức chế acetylcholinesterase không làm giảm gánh nặng bệnh tật và thường dẫn đến các tác dụng phụ. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Takeda Pharmaceutical tài trợ đã được tiến hành để đánh giá TAK-071 - một chất chủ vận thụ thể acetylcholine 1 muscarinic mới để kiểm soát bệnh Parkinson.
|