​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
ENGLISH

CÁC BÀI ĐĂNG QUÝ 1, 2025:

<<< Xuất Bản Trước
Xuất Bản Sau >>>

Kiểm soát ngứa và tổn thương ở bệnh nhân bị Prurigo Nodularis bằng Nemolizumab​


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 31 tháng 3 năm 2025
Picture
Bệnh Prurigo nodularis là một rối loạn viêm da do interleukin-31 gây ra, đặc trưng bởi tình trạng ngứa dữ dội dẫn đến gãi và có thể dẫn đến chảy máu và rối loạn giấc ngủ. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược Galderma đã nhằm đánh giá hiệu quả của nemolizumab -một chất đối kháng thụ thể IL-31 trong việc kiểm soát prurigo nodularis.
Đọc Tiếp >>>

Liệu pháp kết hợp Brexpiprazole và Sertraline cho PTSD


CHỦ ĐỀ: Tâm Lý
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 28 tháng 3 năm 2025
Picture
Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) như sertraline và paroxetine là phương pháp điều trị duy nhất được FDA Hoa Kỳ chấp thuận cho chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). Tuy nhiên, những loại thuốc này chỉ có hiệu quả ở khoảng một nửa số bệnh nhân và có xu hướng không nhất quán trong việc kiểm soát các triệu chứng xâm nhập và kích động. Điều này đã dẫn đến sự quan tâm đối với các phương pháp điều trị thay thế. Được tài trợ bởi Otsuka Pharmaceutical, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tiềm năng ngoài nhãn của Brexpiprazole trong việc kiểm soát PTSD.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá tác động của việc nhiễm SARS-CoV-2 ở mẹ và tiêm vắc-xin COVID-19 đối với sự phát triển của trẻ nhỏ


CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, ​COVID-19, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 26 tháng 3 năm 2025
Picture
Hiện nay đang có một sự đồng thuận hạn chế về việc nhiễm SARS-CoV-2 ở mẹ gây ra sự ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ nhỏ. Tương tự như vậy, tác động của việc tiêm vắc-xin COVID-19 ở người mẹ đối với sự phát triển sớm của trẻ vẫn chưa rõ ràng. Để giải quyết những khoảng trống hiểu biết này, Hội đồng nghiên cứu kinh tế và xã hội của Vương quốc Anh đã tài trợ cho một nghiên cứu cấp độ dân số để đánh giá tác động của cả nhiễm trùng ở mẹ và tiêm vắc-xin COVID-19 đối với sự phát triển của trẻ nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

Liệu pháp kép với Acalabrutinib và Venetoclax làm giảm tử vong và tiến triển bệnh ở bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 3 năm 2025
Picture
Bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính hiện đang được điều trị bằng các phác đồ kết hợp bao gồm các liệu pháp miễn dịch hóa học có mục tiêu như chất ức chế tyrosine kinase Bruton, chất ức chế Bcl-2 và kháng thể anti-CD20, cùng các loại khác. Các phương pháp điều trị này đã cải thiện đáng kể khả năng sống sót và làm chậm tiến triển của bệnh, nhưng chúng cũng liên quan đến tình trạng ức chế miễn dịch kéo dài và độc tính tim mạch. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã so sánh hiệu quả và độ an toàn của acalabrutinib, chất ức chế tyrosine kinase Bruton thế hệ thứ hai, với các phác đồ điều trị hiện tại cho bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính.
Đọc Tiếp >>>

Spironolactone Trong Việc Quản Lý Tim Mạch Sau Nhồi Máu Cơ Tim​


CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 21 tháng 3 năm 2025
Picture
Hệ thống renin-angiotensin-aldosterone đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân suy tim, tình trạng tích tụ dịch quá mức có thể làm tình trạng bệnh trở nên tồi tệ hơn, do đó, việc chặn hệ thống này bằng spironolactone đã được chứng minh là có lợi. Tương tự như vậy, eplerenone—một loại thuốc có liên quan chặt chẽ với spironolactone—đã có hiệu quả ở những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và giảm phân suất tống máu. Do đó, một nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Sức khỏe Canada tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng spironolactone trong việc kiểm soát sức khỏe tim mạch sau nhồi máu cơ tim.
Đọc Tiếp >>>

Tiềm năng sử dụng Probiotic nhằm quản lý sức khỏe gan ở bệnh nhân xơ gan liên quan đến viêm gan B


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 19 tháng 3 năm 2025
Picture
Liên quan đến mối liên hệ chặt chẽ giữa 2 bộ phận trong cơ thể là ruột và gan, những thay đổi ở một bộ phận có thể ảnh hưởng đáng kể đến bộ phận còn lại. Các chất chuyển hóa do hệ vi khuẩn đường ruột sản xuất được ruột già hấp thụ và cuối cùng được vận chuyển đến gan, do đó, bất kỳ sự mất cân bằng nào ở ruột cũng có thể dẫn đến sản xuất các chất làm trầm trọng thêm tình trạng viêm gan. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Tiêu hóa Thế giới đã điều tra việc sử dụng lợi khuẩn Lactobacillus paracasei N1115 để kiểm soát chức năng gan ở những bệnh nhân bị xơ gan do viêm gan B.
Đọc Tiếp >>>

Quản lý bệnh thận mãn tính bằng Empagliflozin


CHỦ ĐỀ: ​Tiểu Đường & Nội Tiết,​ Tiết Niệu, ​Tim Mạch​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 3 năm 2025
Picture
Empagliflozin là chất ức chế vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) thường được kê đơn để kiểm soát bệnh tiểu đường loại 2. Không phụ thuộc vào tác dụng kiểm soát đường huyết, nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng chất ức chế SGLT 2 có thể làm giảm tăng huyết áp cầu thận và cải thiện chức năng thận. Với sự tài trợ từ Boehringer Ingelheim và Eli Lilly, một nghiên cứu gần đây đã khám phá việc sử dụng empagliflozin trong việc kiểm soát bệnh thận mãn tính.
Đọc Tiếp >>>

Phòng ngừa tử vong do tim mạch bằng liệu pháp Colchicine ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim


CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 14 tháng 3 năm 2025
Picture
Xơ vữa động mạch và các biến chứng tim mạch có liên quan đến tình trạng viêm dai dẳng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc giảm viêm bằng canakinumab—chất ức chế interleukin-1 beta—có thể làm giảm nguy cơ biến cố thiếu máu cục bộ, mặc dù phương pháp điều trị này làm tăng đáng kể nguy cơ nhiễm trùng. Colchicine cũng có đặc tính chống viêm, đang được nghiên cứu về khả năng ngăn ngừa các biến cố tim mạch, như một phần của nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Sức khỏe Canada tài trợ.
Đọc Tiếp >>>

So sánh hiệu quả của liệu pháp đơn trị Tenofovir Disoproxil Fumarate với liệu pháp kết hợp Entecavir cộng với Adefovir Disoproxil trong việc kiểm soát viêm gan B


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 12 tháng 3 năm 2025
Picture
Thuốc kháng vi-rút tương tự nucleotide là phương pháp hiệu quả và thuận tiện nhất để kiểm soát tình trạng nhiễm viêm gan B mạn tính trên cơ sở ngoại trú. Tuy nhiên, vì việc điều trị thường cần phải tiếp tục trong thời gian dài nên sự phát triển của tình trạng kháng thuốc kháng vi-rút là một mối lo ngại. Đối với các trường hợp kháng adefovir disoproxil, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu việc thêm entecavir vào phác đồ hiện tại hay chuyển sang phác đồ đơn trị liệu tenofovir disoproxil fumarate thì có hiệu quả hơn trong việc kiểm soát viêm gan B mạn tính hay không.
Đọc Tiếp >>>

Long-term Management of Childhood Obesity with Liraglutide

Topic: DIABETES & ENDOCRINOLOGY, PEDIATRIC
Reviewed by Dat Tien Nguyen, B.A, ScM.  
Translated by Nhi Phuong Quynh Le, B.A 
​Posted on March 10th, 2025
Picture
Over the past few decades, Vietnam has seen a significant rise in childhood obesity. This trend is especially worrisome because childhood obesity greatly elevates the likelihood of developing lifelong complications such as diabetes and cardiovascular disease. In response to this concern, Novo Nordisk sponsored a study examining the use of liraglutide—a glucagon-like peptide 1 receptor agonist—for weight management in young children.
READ MORE >>>

Kiểm soát bệnh viêm loét đại tràng bằng cách chặn S1PR1 bằng Tamuzimod


CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 3 năm 2025
Picture
Viêm loét đại tràng là một tình trạng tự miễn dịch, trong đó các tế bào miễn dịch gây ra tình trạng viêm quá mức ở ruột già. Các tế bào này được dẫn đến mô bị viêm bằng một gradient sphingosine 1-phosphate. Mặc dù ức chế con đường này đã cho thấy hiệu quả trong điều trị bệnh đa xơ cứng, nhưng ức chế không chọn lọc có thể dẫn đến tỷ lệ mắc các tác dụng phụ cao hơn. Tamuzimod - một chất ức chế có mục tiêu hơn, gần đây đã được đánh giá trong một nghiên cứu của Lancet về khả năng kiểm soát viêm loét đại tràng.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của liệu pháp kết hợp Tenofovir và Atorvastatin trong bệnh viêm gan B mãn tính


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 5 tháng 3 năm 2025
Picture
Nhiễm trùng viêm gan B mãn tính có thể được kiểm soát thông qua liệu pháp interferon và thuốc kháng vi-rút; tuy nhiên, không có phương pháp điều trị hiện tại nào có thể tiêu diệt hiệu quả vi-rút. Trong suốt vòng đời của chúng, vi-rút viêm gan B kết hợp một phần màng tế bào vật chủ khi nó thoát khỏi tế bào. Vì cholesterol đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính linh hoạt của màng, nên một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu xem liệu việc thêm statin hạ cholesterol vào liệu pháp kháng vi-rút tiêu chuẩn có thể cải thiện khả năng kiểm soát viêm gan B hay không.
Đọc Tiếp >>>

Tác dụng của Deferiprone đối với nồng độ sắt trong não và suy giảm nhận thức ở bệnh Alzheimer​


CHỦ ĐỀ: Thần Kinh
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 3 tháng 3 năm 2025
Picture
Nghiên cứu thần kinh trước đây chỉ ra rằng sự tích tụ sắt cao trong não có liên quan đến thoái hóa thần kinh ở những bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer và có khả năng là do vai trò của sắt trong việc thúc đẩy tế bào chết thông qua quá trình ferroptosis. Một nghiên cứu được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ từ ApoPharma nhằm đánh giá việc sử dụng deferiprone - một chất thải sắt nhằm kiểm soát các triệu chứng thần kinh tâm lý ở bệnh Alzheimer.
Đọc Tiếp >>>

Amoxicillin liều cao so với liều thấp kết hợp với Vonoprazan nhằm diệt trừ H. pylori


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 28 tháng 2 năm 2025
Picture
Sự kết hợp giữa amoxicillin và vonoprazan đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị và chữa khỏi nhiễm trùng Helicobacter pylori. Tuy nhiên, liều lượng kháng sinh tối ưu vẫn chưa chắc chắn, điều này rất quan trọng vì tác động tiềm tàng của chúng đối với hệ vi khuẩn đường ruột. Với những lo ngại ngày càng tăng về tình trạng kháng kháng sinh, điều quan trọng là phải xác định liều lượng vừa diệt trừ được vi khuẩn vừa giảm thiểu sự phát triển của các chủng kháng thuốc. Một nghiên cứu do Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc tài trợ và mới được công bố trên tạp chí The Lancet đã điều tra liều lượng tối ưu của amoxicillin và vonoprazan về mặt hiệu quả, hệ vi khuẩn đường ruột và khả năng kháng thuốc.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Giun Sán Bằng Công Thức Mới Kết Hợp Albendazole và Ivermectin​


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 26 tháng 2 năm 2025
Picture
Nhiễm giun sán truyền qua đất thường được điều trị và phòng ngừa bằng một liều albendazole hoặc mebendazole duy nhất. Mặc dù các loại thuốc này có hiệu quả cao đối với các loài giun móc như Ancylostoma duodenale và Necator americanus, nhưng chúng lại kém hiệu quả hơn trong việc loại bỏ Strongyloides stercoralis và Trichuris trichiura. Để giải quyết khoảng cách này, một nghiên cứu do Liên minh Châu Âu tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của việc kết hợp albendazole với ivermectin để điều trị tất cả các bệnh nhiễm giun sán truyền qua đất chính.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả lâu dài của Tirzepatide trong việc kiểm soát suy tim


CHỦ ĐỀ: ​Tiểu Đường & Nội Tiết, Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 2 năm 2025
Picture
Béo phì làm tăng cả nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của suy tim, vì các tế bào mỡ góp phần tạo ra môi trường gây viêm có thể gây tổn thương thêm cho các mô tim. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giảm thể tích tế bào mỡ ngoài màng tim thông qua việc giảm cân có thể làm giảm nguy cơ suy tim và cải thiện các triệu chứng. Tirzepatide -  một loại thuốc chống đái tháo đường được sử dụng rộng rãi giúp kiểm soát cân nặng đã được phát hiện ra trong một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ về khả năng kiểm soát các triệu chứng ở những người bị suy tim.
Đọc Tiếp >>>

Kết quả tâm thần sau sinh sau khi ngừng SSRI/SNRI trong thời kỳ mang thai


CHỦ ĐỀ: Phụ & Sản Khoa, Tâm Lý
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 21 tháng 2 năm 2025
Picture
Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI) có hiệu quả trong việc kiểm soát chứng trầm cảm và lo âu trong thai kỳ. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ mang thai chọn ngừng dùng những loại thuốc này vì các rủi ro. Một nghiên cứu đã được tiến hành để xem xét các kết quả về tâm thần sau sinh liên quan đến việc ngừng dùng SSRI và SNRI.
Đọc Tiếp >>>

Truyền dịch axit tranexamic quanh phẫu thuật làm giảm nguy cơ xuất huyết


CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 19 tháng 2 năm 2025
Picture
Chảy máu là mối quan tâm đáng kể trong phẫu thuật tổng quát. Khi chảy máu xảy ra, nó có thể làm phức tạp quá trình hồi phục của bệnh nhân, kéo dài thời gian nằm viện và đôi khi cần phải phẫu thuật bổ sung để giải quyết vấn đề. Axit tranexamic là một chất chống tiêu sợi huyết, đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ xuất huyết trong các ca phẫu thuật không liên quan đến tim. Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ gần đây đã đánh giá việc sử dụng axit tranexamic trong phẫu thuật tổng quát.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá sự kết hợp của Baricitinib uống và liệu pháp quang trị UV-B trong việc kiểm soát bệnh bạch biến​


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 2 năm 2025
Picture
Bạch biến là một rối loạn tự miễn dịch trong đó tế bào T dương tính với CD8 tấn công các tế bào hắc tố sản xuất sắc tố ở lớp biểu bì, dẫn đến các mảng da trắng sữa. Quá trình này chịu ảnh hưởng của interferon-gamma và interleukin-13, và có thể được kiểm soát bằng các liệu pháp nhắm vào các protein Janus kinase (JAK) tham gia vào quá trình truyền tín hiệu. Một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ đã điều tra những lợi ích tiềm năng của việc kết hợp baricitinib đường uống - một chất ức chế JAK, với liệu pháp quang trị liệu UV-B để kiểm soát bệnh bạch biến.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Tenofovir Disoproxil Fumarate sớm để ngăn ngừa lây truyền virus viêm gan B từ mẹ sang con


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Phụ & Sản Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 14 tháng 2 năm 2025
Picture
Lây truyền từ mẹ sang con là dạng lây truyền viêm gan B phổ biến nhất và nguy cơ lây truyền cao hơn ở những bà mẹ có tải lượng vi-rút cao. Dạng lây truyền này hiện đang được ngăn ngừa bằng cách sử dụng globulin miễn dịch, có tác dụng liên kết và trung hòa vi-rút viêm gan B. Tuy nhiên, chi phí và yêu cầu bảo quản globulin miễn dịch đặt ra những thách thức đáng kể ở những khu vực có nguồn lực hạn chế. Một nghiên cứu do Gilead tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của việc sử dụng tenofovir sớm ở phụ nữ mang thai bị nhiễm viêm gan B.
Đọc Tiếp >>>

So sánh hiệu quả và nguy cơ chảy máu của Abelacimab so với Rivaroxaban trong rung nhĩ​


CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 12 tháng 2 năm 2025
Picture
Rung nhĩ là dạng loạn nhịp tim phổ biến nhất, đặc trưng bởi các cơn co thắt nhĩ bất thường và nhanh. Việc thiếu phối hợp giữa các buồng tim này tạo ra dòng máu hỗn loạn, dẫn đến sự kết tụ của các tế bào hồng cầu và tạo thành cục máu đông. Do đó, bệnh nhân bị rung nhĩ phải đối mặt với nguy cơ đột quỵ tăng gấp năm lần. Tình trạng này hiện đang được điều trị bằng thuốc chống đông máu, chẳng hạn như rivaroxaban. Một nghiên cứu do Anthos Therapeutics tài trợ đã được tiến hành để so sánh hiệu quả của abelacimab với phác đồ chuẩn hiện tại trong việc giảm nguy cơ biến chứng tim mạch liên quan đến rung nhĩ.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả lâu dài của Zoledronate trong việc giảm nguy cơ gãy xương và cải thiện mật độ xương ở phụ nữ sau mãn kinh


CHỦ ĐỀ: Xương Khớp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 10 tháng 2 năm 2025
Picture
Giảm mật độ xương là vấn đề phổ biến ở phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh, làm tăng nguy cơ gãy xương. Để giảm nguy cơ này, cần cân nhắc các biện pháp can thiệp nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình mất xương. Một nghiên cứu do Hội đồng nghiên cứu y tế New Zealand tài trợ nhằm điều tra độ hiệu quả của zoledronate trong việc giảm nguy cơ gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Plozasiran để ngăn ngừa viêm tụy và giảm mức Triglyceride ở bệnh nhân bị bệnh Chylomicronemia dai dẳng​


CHỦ ĐỀ: Tim Mạch, ​Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 2 năm 2025
Picture
Chylomicron là các hạt lipoprotein mà biểu mô ruột non sử dụng để vận chuyển chất béo trong chế độ ăn uống khắp cơ thể và đến gan sau đó, tạo thành các hạt chứa cholesterol như HDL và LDL. Bệnh nhân bị chứng chylomicronemia sẽ bị tích tụ quá nhiều các hạt này và cũng bị tăng triglyceride máu, làm tăng nguy cơ viêm tụy. Một nghiên cứu mới được công bố do Arrowhead Pharmaceuticals tài trợ, đã khám phá hiệu quả của plozasiran trong việc kiểm soát chứng chylomicronemia và ngăn ngừa viêm tụy.
Đọc Tiếp >>>

Khả năng sử dụng Asundexian, một chất ức chế yếu tố XI, để ngăn ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ​


CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 5 tháng 2 năm 2025
Picture
Các cơn co thắt cơ tim không đều ở những bệnh nhân bị rung nhĩ làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông, từ đó làm tăng khả năng đột quỵ. Mặc dù tình trạng này thường có thể được kiểm soát bằng thuốc chống đông máu, nhưng những người có nguy cơ chảy máu cao hơn không thể sử dụng hình thức điều trị này, do đó đã tạo ra nhu cầu về các liệu pháp thay thế. Một bài báo gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã khám phá việc sử dụng asundexian - một chất ức chế yếu tố XI, để ngăn ngừa đột quỵ ở những bệnh nhân bị rung nhĩ.
Đọc Tiếp >>>

Kết quả dài hạn của sự kết hợp Nivolumab và Ipilimumab trong bệnh u hắc tố tiến triển không thể cắt bỏ


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 3 tháng 2 năm 2025
Picture
Sau khi được chấp thuận vào năm 2010, sự kết hợp giữa nivolumab và ipilimumab đã cho thấy kết quả đáng chú ý ở những bệnh nhân mắc bệnh u hắc tố. Nivolumab và ipilimumab hoạt động bằng cách ngăn chặn các protein PD-1 và CTLA-4 mà các tế bào ung thư sử dụng để ức chế phản ứng miễn dịch. Sau khi được chấp thuận, Bristol Myers Squibb đã tài trợ cho một nghiên cứu giám sát để đánh giá kết quả lâu dài của sự kết hợp giữa nivolumab và ipilimumab trong điều trị bệnh u hắc tố.
Đọc Tiếp >>>

Ức chế tín hiệu Muscarinic bằng Xanomeline-Tropsium để kiểm soát bệnh tâm thần phân liệt


CHỦ ĐỀ: Tâm Lý
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 31 tháng 1 năm 2025
Picture
Thuốc chống loạn thần thường được dùng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt hoạt động bằng cách ngăn chặn các thụ thể dopamine. Tuy nhiên, những loại thuốc này không hiệu quả trong việc giải quyết các triệu chứng tiêu cực của bệnh tâm thần phân liệt và thường không được dung nạp do tác dụng phụ của chúng. Xanomeline-tropsium chloride là một tác nhân kháng muscarinic mới có thể cung cấp một phương pháp tiếp cận mới để kiểm soát bệnh tâm thần phân liệt bằng cách nhắm vào sự mất cân bằng acetylcholine liên quan đến căn bệnh này. Một nghiên cứu do Karuna Therapeutics tài trợ đã được tiến hành để điều tra khả năng sử dụng Xanomeline-tropsium chloride trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá việc sử dụng Levofloxacin để ngăn ngừa lây truyền bệnh lao đa kháng thuốc ở trẻ em​


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Nhi Khoa, Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 29 tháng 1 năm 2025
Picture
Trẻ em dưới 5 tuổi đặc biệt dễ mắc các bệnh có triệu chứng sau khi tiếp xúc với Mycobacterium tuberculosis. Trong trường hợp mắc bệnh lao đa kháng thuốc (MDR), việc kiểm soát bệnh trở nên tốn kém và phức tạp hơn đáng kể. Phương pháp tiếp cận hiện tại để kiểm soát sự lây lan của bệnh lao đa kháng thuốc ở trẻ nhỏ bao gồm việc truy vết tiếp xúc trong gia đình từ những cá nhân mới được chẩn đoán mắc bệnh. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã khám phá việc sử dụng levofloxacin để ngăn ngừa sự lây truyền của vi khuẩn MDR ở trẻ nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

Kiểm soát bệnh hen suyễn tăng bạch cầu ái toan nặng bằng Depemokimab, thuốc ức chế Interleukin-5


CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Hô Hấp​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 27 tháng 1 năm 2025
Picture
Cytokine interleukin-5 đóng vai trò quan trọng trong việc làm trầm trọng bệnh hen suyễn bằng cách thúc đẩy sự phát triển và kích hoạt bạch cầu ái toan. Các kháng thể chẳng hạn như mepolizumab, ức chế đường truyền tín hiệu IL-5 đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh hen suyễn và sự phụ thuộc vào glucocorticoid. Depemokimab là một kháng thể có tác dụng cực dài mới có ái lực cao hơn với IL-5, hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh hen suyễn đã được đánh giá bởi một nghiên cứu do GlaxoSmithKline tài trợ.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Ponsegromab trong việc kiểm soát chứng suy mòn ở bệnh nhân ung thư


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2025
Picture
Suy mòn là một vấn đề phổ biến mà bệnh nhân ung thư phải đối mặt, với một số ít lựa chọn điều trị được chấp thuận. Các hướng dẫn gần đây đề xuất sử dụng olanzapine để cải thiện cảm giác thèm ăn, mặc dù có ít bằng chứng hỗ trợ cho khuyến nghị này. Sử dụng ngắn hạn các chất tương tự progesterone và glucocorticoid cũng có thể có lợi, nhưng chúng đi kèm với các tác dụng phụ. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng protein GDF-15 đóng vai trò trong sự phát triển của chứng suy mòn thông qua tương tác của nó với các thụ thể GFRAL ở não sau. Ponsegromab là một kháng thể mới ức chế tương tác này và Pfizer đã tài trợ cho một nghiên cứu để khám phá khả năng sử dụng của nó trong việc kiểm soát chứng suy mòn.
Đọc Tiếp >>>

So sánh hiệu quả và tính an toàn của Insulin Efsitora hàng tuần so với Insulin Degludec hàng ngày trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường loại 2


CHỦ ĐỀ: Tiểu Đường & Nội Tiết
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 22 tháng 1 năm 2025
Picture
Khi các loại thuốc hạ glucose truyền thống không còn hiệu quả trong việc kiểm soát lượng đường trong máu ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2, Insulin dạng tiêm sẽ được sử dung.Tuy nhiên, việc tiêm insulin degludec hàng ngày có thể là một thách thức và việc giảm tần suất tiêm có thể cải thiện khả năng tuân thủ điều trị. Insulin efsitora là một tác nhân mới có thời gian bán hủy dài hơn. Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của insulin efsitora một lần một tuần với insulin degludec một lần một ngày hiện tại trong việc kiểm soát lượng đường trong máu ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2.​
Đọc Tiếp >>>

Khám phá việc sử dụng Levofloxacin như một biện pháp dự phòng để ngăn ngừa lây truyền bệnh lao kháng thuốc đa thuốc trong hộ gia đình tại Việt Nam​


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm,​ Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 20 tháng 1 năm 2025
Picture
Sự xuất hiện của vi khuẩn đa kháng thuốc (MDR) đã đảo ngược tiến trình kiểm soát các bệnh truyền nhiễm, khiến chúng một lần nữa trở thành mối đe dọa đáng kể đối với sức khỏe cộng đồng, trong đó bệnh lao là một trong những mối quan tâm chính. Bệnh nhân bị nhiễm bệnh lao MDR có tỷ lệ điều trị thành công thấp hơn và mắc bệnh nặng hơn so với những người mắc các chủng dễ bị nhiễm. Levofloxacin là một trong những loại kháng sinh được sử dụng để điều trị bệnh lao MDR và ​​Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu việc sử dụng levofloxacin như một biện pháp dự phòng để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh lao MDR ở những người sống chung với bệnh nhân bị nhiễm bệnh.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị bệnh phong đa trực khuẩn bằng phác đồ đơn trị liệu Bedaquiline thay thế kéo dài 8 tuần


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Truyền Nhiễm
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 1 năm 2025
Picture
Bệnh phong nhiều trực khuẩn là một bệnh nhiễm trùng da nghiêm trọng do Mycobacterium leprae gây ra, thường được điều trị bằng liệu trình clofazimine, dapsone và rifampin trong 12 tháng. Mặc dù phác đồ kháng khuẩn này có hiệu quả, nhưng lại gặp nhiều thách thức do tác dụng phụ của dapsone, khả năng tuân thủ kém do thời gian điều trị dài và sự xuất hiện của các chủng kháng thuốc. Bedaquiline - một diarylquinoline ức chế ATP synthase của vi khuẩn lao, là một phương pháp thay thế tiềm năng cho phác đồ hiện tại. Một nghiên cứu do Janssen tài trợ đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng liệu pháp đơn trị bedaquiline như một phương pháp điều trị bệnh phong nhiều trực khuẩn.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của việc kết hợp Xalnesiran với Ruzotolimod và Peginterferon Alfa-2a trong điều trị viêm gan B​


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm,​ Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 15 tháng 1 năm 2025
Picture
Phương pháp điều trị chuẩn hiện tại đối với nhiễm trùng viêm gan B bao gồm 48 tuần đầu dùng pegylated interferon để kích hoạt phản ứng miễn dịch kháng vi-rút, sau đó là liệu pháp tương tự nucleotide/nucleoside suốt đời. Tuy nhiên, tỷ lệ chữa khỏi sau 12 tháng chỉ là 7%, vì vậy điều này dẫn đến nhu cầu về các liệu pháp mới. Xalnesiran là một RNA can thiệp nhỏ mới nhắm mục tiêu và ức chế biểu hiện của protein S của vi-rút. Một nghiên cứu do Roche tài trợ đã được tiến hành để khám phá tiềm năng sử dụng xalnesiran kết hợp với ruzotolimod - một chất chủ vận TLR-7, như một phương pháp điều trị để chữa khỏi nhiễm trùng viêm gan B.
Đọc Tiếp >>>

Tác động của việc bổ sung Pembrolizumab vào liệu pháp hóa trị dựa trên Platinum đối với sự sống còn ở bệnh ung thư vú bộ ba âm tính


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 13 tháng 1 năm 2025
Picture
Điều trị ung thư vú có thể là một thách thức vì các phân nhóm khác nhau của bệnh biểu hiện các mức độ nhạy cảm và tiên lượng khác nhau. Ung thư vú bộ ba âm tính được đặc trưng bởi các tế bào khối u không biểu hiện thụ thể estrogen, thụ thể progesterone hoặc thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì ở người. Việc thiếu các mục tiêu điều trị này khiến việc điều trị phân nhóm này trở nên đặc biệt khó khăn. Pembrolizumab là một chất ức chế PD-1, chúng hoạt động bằng cách ngăn chặn khả năng trốn tránh hệ thống miễn dịch của khối u. Thuốc Pembrolizumab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm chấp thuận vào năm 2020 để điều trị ung thư vú bộ ba âm tính sau khi có kết quả sơ bộ đầy hứa hẹn. Gần đây, nghiên cứu đã công bố những phát hiện trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

So sánh hiệu quả của các lịch tiêm vắc-xin phế cầu liều giảm ở Việt Nam​


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 10 tháng 1 năm 2025
Picture
Streptococcus pneumoniae là tác nhân gây bệnh phổ biến gây nhiễm trùng đường hô hấp trên ở trẻ nhỏ. Nhiễm trùng có thể được ngăn ngừa thông qua tiêm chủng, với phác đồ tiêu chuẩn bao gồm 3 liều cơ bản trong giai đoạn đầu của trẻ sơ sinh hoặc 2 liều cơ bản trong vòng 6 tháng đầu, sau đó là liều tăng cường sau 9 tháng tuổi. Mặc dù cả hai lịch tiêm chủng đều đã được chứng minh là có hiệu quả, nhưng chúng có thể tốn kém, khiến các quốc gia có nguồn lực hạn chế khó có thể triển khai các chương trình tiêm chủng trên toàn quốc. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ đã được tiến hành để so sánh hiệu quả của chương trình tiêm chủng liều thấp với lịch tiêm chủng 3 liều tiêu chuẩn.
Đọc Tiếp >>>

So sánh sự kết hợp Nivolumab và Ipilimumab với hóa trị liệu tiêu chuẩn trong ung thư trực tràng di căn tiến triển


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiêu Hóa​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 1 năm 2025
Picture
Ung thư đại trực tràng là một loại ung thư phổ biến và những bệnh nhân bị thiếu hụt sửa chữa không khớp và đột biến mất ổn định vi vệ tinh thường có tiên lượng xấu hơn. Nivolumab và ipilimumab có thể kích hoạch quá trình tiêu diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã điều tra tác động của nivolumab và ipilimumab trong việc điều trị cho những bệnh nhân ung thư đại trực tràng có đột biến tiến triển.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của chất chủ vận GLP-1 trong việc kiểm soát rối loạn sử dụng rượu


CHỦ ĐỀ: Tâm Lý, Tiểu Đường & Nội Tiết
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 6 tháng 1 năm 2025
Picture
Các chất chủ vận GLP-1 bao gồm semaglutide và liraglutide đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường và béo phì. Ngoài ra, nghiên cứu sinh học đã chỉ ra rằng việc kích hoạt thụ thể GLP-1 có thể giúp giảm lượng rượu tiêu thụ. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã khám phá tiềm năng sử dụng các chất chủ vận GLP-1 như semaglutide và liraglutide để điều trị chứng rối loạn sử dụng rượu.
Đọc Tiếp >>>
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues