|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 9 năm 2024
|
|
Nhiễm trùng sau phẫu thuật là biến chứng đáng kể thường thấy ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Để ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn thuộc họ Staphylococcus và Streptococcus, cefazolin thường được tiêm tĩnh mạch trước khi phẫu thuật. Tuy nhiên, việc sử dụng garô, giúp cải thiện quá trình gắn xương trong quá trình phẫu thuật, có thể hạn chế lưu lượng máu và giảm hiệu quả của kháng sinh dự phòng. Để tìm hiểu tác động của việc áp dụng garô đối với hiệu quả của kháng sinh, một nhóm các bác sĩ từ Đại học McGill đã tiến hành một nghiên cứu.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 9 năm 2024
|
|
Người lớn tuổi cần lượng protein cao hơn để duy trì sức khỏe tốt do các yếu tố như giảm hoạt động thể chất, suy giảm khẩu vị và gia tăng kháng insulin/protein. Tuy nhiên, đối với những người mắc bệnh thận mãn tính (CKD), lượng protein cao có thể làm tình trạng của họ trở nên tồi tệ hơn. Do đó, khuyến cáo những bệnh nhân mắc CKD giai đoạn 3 đến 5 nên hạn chế lượng protein tiêu thụ hàng ngày ở mức dưới 0,8 gam trên một kg trọng lượng cơ thể. Việc hạn chế lượng protein giúp làm chậm quá trình tiến triển của CKD, nhưng tác động rộng hơn của chế độ ăn lên sức khỏe tổng quan và tỷ lệ tử vong vẫn chưa rõ ràng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 9 năm 2024
|
|
Do bản chất của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), hầu hết các trường hợp bệnh đều không thể điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ, khiến hóa xạ trị kết hợp với durvalumab trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng bệnh nhân NSCLC có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) có tiên lượng kém hơn. Osimertinib, một chất ức chế EGFR, gần đây đã được đánh giá về hiệu quả trong điều trị NSCLC đột biến EGFR trong một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 9 năm 2024
|
|
Buồn nôn và nôn mửa là hai tác dụng phụ thường gặp của việc điều trị ung thư bằng hóa trị, đặc biệt là với các phác đồ bao gồm oxaliplatin, irinotecan và carboplatin, khiến cho việc điều trị dự phòng chống nôn quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Olanzapine, một loại thuốc chống loạn thần thường được sử dụng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt, gần đây đã được đánh giá trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp Chí của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) để xác định xem các đặc tính chống nôn của thuốc có thể hỗ trợ ngăn ngừa các tác dụng phụ ở những bệnh nhân hóa trị.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 9 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu dịch tễ học trước đây đã chỉ ra rằng các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp như SARS-CoV-2 và Cúm Influenza có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cấp tính và tử vong, đặc biệt là ở người lớn tuổi. Mặc dù vi-rút hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp theo mùa, nhưng tác động của vi-rút lên sức khỏe tim mạch vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Vì thế, Trung tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá nguy cơ biến chứng tim ở người lớn tuổi nhập viện do nhiễm RSV.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 18 tháng 9 năm 2024
|
|
Cannabinoid trong cần sa có thể cản trở sự phát triển của nhau thai bằng cách phá vỡ tín hiệu cannabinoid và estrogen nội sinh. Ngoài ra, việc sử dụng cần sa có thể dẫn đến co mạch ngoại vi, dẫn đến gia tăng nhịp tim và tăng huyết áp. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) đã đánh giá tác động của việc sử dụng cần sa trước khi lúc mang thai đối với sức khỏe của bà mẹ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 16 tháng 9 năm 2024
|
|
Viêm da do bệnh vẩy nến được gây ra bởi interleukin 17 và tế bào T-helper 17. Mặc dù có một số phương pháp điều trị hiệu quả đã được thử nghiệm, nhưng không có nhiều lựa chọn điều trị dạng uống. Zasocitinib là một tác nhân ức chế TYK2 có thể dùng qua đường uống. Thuốc ức chế TYK2 bằng cách can thiệp vào quá trình chuyển hóa protein JAK. Một nghiên cứu do công ty dược Nimbus Discovery và Takeda tài trợ đã được tiến hành để tìm hiểu hiệu quả của zasocitinib trong việc kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 9 năm 2024
|
|
Viêm da do bệnh vẩy nến được gây ra bởi interleukin 17 và tế bào T-helper 17. Mặc dù có một số phương pháp điều trị hiệu quả đã được thử nghiệm, nhưng không có nhiều lựa chọn điều trị dạng uống. Zasocitinib là một tác nhân ức chế TYK2 có thể dùng qua đường uống. Thuốc ức chế TYK2 bằng cách can thiệp vào quá trình chuyển hóa protein JAK. Một nghiên cứu do công ty dược Nimbus Discovery và Takeda tài trợ đã được tiến hành để tìm hiểu hiệu quả của zasocitinib trong việc kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 11 tháng 9 năm 2024
|
|
Do béo phì là yếu tố nguy cơ gây viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH), các chất chủ vận thụ thể GLP-1 có thể là liệu pháp cho tình trạng này do tác dụng kiểm soát glucose và ức chế cảm giác thèm ăn. Tuy nhiên, vì tế bào gan không có thụ thể GLP-1 nên việc nhắm mục tiêu vào các thụ thể khác, chẳng hạn như thụ thể glucagon, có thể tăng hiệu quả điều trị bằng cách thúc đẩy quá trình phân giải mỡ và huy động mỡ gan. Survodutide, một chất chủ vận kép với khả năng tương tác với thụ thể GLP-1 và glucagon, hiện đang được nghiên cứu trong một nghiên cứu do công ty dược phẩm Boehringer Ingelheim tài trợ về tiềm năng kiểm soát MASH.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA
|
Đăng vào ngày 9 tháng 9 năm 2024
|
|
Để tối đa hóa khả năng loại bỏ bệnh đa u tủy và ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc, bệnh thường được điều trị bằng sự kết hợp của nhiều liệu pháp, bao gồm chất ức chế proteasome và thuốc điều hòa miễn dịch như bortezomib và dexamethasone. Bệnh có thể được điều trị với kháng thể đơn dòng nhắm vào các mục tiêu cụ thể trên tế bào khối u. Ví dụ như CD38 và BCMA được biểu hiện nhiều trên các tế bào u tủy và có thể được nhắm mục tiêu bằng daratumumab và belantamab. Một nghiên cứu gần đây do công ty dược GlaxoSmithKline tài trợ đã so sánh hiệu quả của daratumumab và belantamab trong việc điều trị bệnh đa u tủy và hiện đã công bố kết quả nghiên cứu.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 9 năm 2024
|
|
Rối loạn vi khuẩn đường ruột ở những bệnh nhân có triệu chứng tiền vận động của bệnh Parkinson có thể đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh. Các nghiên cứu trên động vật trước đây đã chỉ ra rằng cấy ghép vi khuẩn đường ruột (FMT) có thể mang lại lợi ích bảo vệ thần kinh ở bệnh Parkinson. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra xem liệu FMT có thể cải thiện kết quả ở bệnh Parkinson hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 9 năm 2024
|
|
Viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH) gia tăng nguy cơ các biến chứng tim mạch và gan. Béo phì là một yếu tố nguy cơ đáng kể đối với MASH và các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc giảm cân giúp giải quyết tình trạng này. Tirzepatide, một chất chủ vận thụ thể GLP-1 thường được sử dụng để kiểm soát bệnh tiểu đường, cũng hỗ trợ việc giảm cân. Để khám phá tiềm năng của nó trong việc điều trị MASH, công ty Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu tác dụng của tirzepatide trong việc kiểm soát tình trạng này.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 2 tháng 9 năm 2024
|
|
Với sự xuất hiện của các biến thể SARS-CoV-2 mới và việc tiêm vắc-xin cho các chủng mới nhất đang giảm, COVID-19 vẫn tiếp tục ảnh hưởng lên sức khỏe cộng đồng. Vì hầu hết các ca truyền SARS-CoV-2 xảy ra trước khi các triệu chứng xuất hiện, những cá nhân chưa được tiêm vắc-xin gần đây nhất có thể vô tình lây lan vi-rút. Sự kết hợp nirmatrelvir-ritonavir đã được chứng minh là phương pháp điều trị hiệu quả cho SARS-CoV-2. Do đó, Pfizer đã tài trợ cho một nghiên cứu để tìm hiểu xem liệu sự kết hợp này có thể được sử dụng để dự phòng sau phơi nhiễm hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 8 năm 2024
|
|
Do độc tính và độ hiệu quả chỉ ở mức trung bình của các liệu pháp nhắm vào TNF, các phương pháp điều trị thay thế như risankizumab và ustekinumab thường được sử dụng cho bệnh Crohn. Cả hai kháng thể đơn dòng đều nhắm mục tiêu vào interleukin 23 (IL-23), mặc dù theo những cách khác nhau: risankizumab nhắm mục tiêu cụ thể vào tiểu đơn vị p19 của IL-23, trong khi ustekinumab nhắm vào tiểu đơn vị p40, được chia sẻ bởi cả interleukin 12 (IL-12) và IL-23, do đó làm giảm nồng độ của cả hai cytokine. Để so sánh hiệu quả của risankizumab và ustekinumab trong việc kiểm soát bệnh Crohn, một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tài trợ bởi AbbVie.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 8 năm 2024
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới và viêm tiểu phế quản, ở trẻ em. Với thời gian bán hủy kéo dài trong cơ thể và khả năng diệt virus mạnh, nirsevimab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cơ quan Dược phẩm Châu u chấp thuận để sử dụng làm thuốc dự phòng trước khi phơi nhiễm với RSV vào đầu năm 2023. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả thực tế của nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhập viện do viêm tiểu phế quản liên quan đến RSV ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 26 tháng 6 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu trước đa chứng minh rằng việc nhiễm virus rubella, cytomegalovirus và coxsackievirus ở người mẹ trong lúc mang thai gia tăng nguy cơ dị tật tim bẩm sinh. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu điều tra về sử ảnh hưởng của vi rút viêm gan B lên sự phát triển của thai nhi. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) đã báo cáo về mối liên quan giữa viêm gan B của mẹ và dị tật tim bẩm sinh ở trẻ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 8 năm 2024
|
|
Viêm thực quản do bạch cầu ưa acid là một tình trạng viêm do tế bào T-helper loại 2 gây ra, và bệnh có thể được điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton, glucocorticoid và kháng thể đơn dòng nhắm vào các tế bào và các đường truyền tín hiệu liên quan. Interleukin 5 đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt bạch cầu ưa acid, vì thế thụ thể của IL-5 là một mục tiêu điều trị. Benralizumab, nhắm vào các thụ thể IL-5, có thể giúp làm giảm kích thích bạch cầu ưa acid. Để khám phá tiềm năng này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của benralizumab trong việc kiểm soát viêm thực quản do bạch cầu ưa acid.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 21 tháng 8 năm 2024
|
|
Viêm thực quản do bạch cầu ưa acid là tình trạng viêm loại 2 do các cytokine như Interleukin-4 và Interleukin-13 gây ra. Ở trẻ em, tình trạng viêm có thể dẫn đến xơ hóa và hẹp thực quản, gây khó nuốt và ảnh hưởng đến sự phát triển. Dupilumab là kháng thể đơn dòng đã được sử dụng để điều trị hen suyễn và viêm da dị ứng bằng cách chặn đường truyền tín hiệu của IL-4 và IL-13. Do đó, Công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng của dupilumab trong việc kiểm soát viêm thực quản do bạch cầu ưa acid ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 19 tháng 8 năm 2024
|
|
Các thuốc tiêu huyết khối như tenecteplase và alteplase là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Reteplase là một chất hoạt hóa plasminogen đã được chấp thuận ở nhiều quốc gia để điều trị nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu do công ty dược phẩm China Resources Angde Biotech Pharma tài trợ đã so sánh hiệu quả của reteplase với alteplase trong việc điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 16 tháng 8 năm 2024
|
|
Nhiều nước châu Âu đã khuyến cáo sử dụng bulevirtide để điều trị nhiễm trùng viêm gan D mãn tính. Thuốc kháng vi-rút bằng cách ức chế sự xâm nhập của vi-rút vào tế bào gan thông qua đồng vận chuyển natri và axit mật. Trước khi bulevirtide được chấp thuận, pegylated interferon alpha là liệu trình điều trị duy nhất. Do đó, một nghiên cứu do công ty Gilead Sciences tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tác dụng kết hợp của bulevirtide và pegylated interferon alpha.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 14 tháng 8 năm 2024
|
|
Trong vòng 4,5 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng đột quỵ thiếu máu cục bộ, các chuyên gia khuyến cáo nên bắt đầu liệu trình tiêu huyết khối bằng thuốc hoạt hóa plasminogen như alteplase và tenecteplase. Tuy nhiên, nhiều trường hợp đột quỵ được nhập viện sau khoảng thời gian này. Các nghiên cứu trước đã cho thấy rằng alteplase có hiệu quả khi dùng trong vòng 9 giờ đầu tiên, nhưng sự hiệu quả của tenecteplase sau 4,5 giờ vẫn chưa được hiểu rõ. Do đó, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của tenecteplase khi dùng trong khoảng từ 4,5 đến 24 giờ sau khi xuất hiện đột quỵ thiếu máu cục bộ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 12 tháng 8 năm 2024
|
|
Phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bao gồm glucocorticoid, thuốc đối kháng muscarinic tác dụng kéo dài (LAMA) và thuốc chủ vận beta tác dụng kéo dài (LABA). Trong một số trường hợp, bệnh vẩn trở nên nặng hơn khi đã dùng liều tối đa của liệu pháp tiêu chuẩn. Dupilumab là một kháng thể đơn dòng có thể làm giảm tình trạng viêm loại 2 bằng cách can thiệp tính hiệu của interleukin-4 và interleukin-13. Vì COPD bị gây ra bởi viêm loại 2, công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá sự hiệu quả của dupilumab trong việc kiểm soát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 9 tháng 8 năm 2024
|
|
Hiện tại, không có phương pháp điều trị được chấp thuận để ngăn ngừa đào thải thận ghép do kháng thể. CD38, một glycoprotein được có nhiều trên tế bào sản xuất kháng thể và tế bào natural killer (NK), là một mục tiêu điều trị đầy hứa hẹn. Việc ức chế CD38 có thể trung hòa các tế bào miễn dịch này và giảm tình trạng viêm. Felzartamab, một kháng thể nhắm vào CD38, đã được đánh giá trong việc giảm nguy cơ đào thải ghép thận qua một nghiên cứu tài trợ bởi công ty dược MorphoSys.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 7 tháng 8 năm 2024
|
|
Nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính cao hơn ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện rằng những việc điều trị với thuốc ức chế renin-angiotensin và thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) giảm rủi ro bệnh thận mãn tính. Với sự thịnh hành của các hợp chất GLP-1 như semaglutide, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của nó đối với nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 5 tháng 8 năm 2024
|
|
Thuốc ức chế yếu tố hoại tử khối u - tumor necrosis factor (TNF) - và thuốc ức chế protein Janus Kinase (JAK) thường được dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp; tuy nhiên, thuốc ức chế TNF thường được ưa chuộng hơn do tính khả dụng cao hơn và chi phí thấp hơn. Do đó, tổ chức European Alliance of Associations for Rheumatology đã ủng hộ việc sử dụng TNFi trước khi cân nhắc thuốc ức chế JAK. Mặc dù vậy, thuốc ức chế JAK như baricitinib mang lại những lợi thế lâm sàng, bao gồm thời gian bán hủy ngắn hơn và cách dùng thuận tiện hơn. Vì thế, công ty Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu so sánh baricitinib với thuốc ức chế TNF trong điều trị viêm khớp dạng thấp.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 12 tháng 7 năm 2024
|
|
Theo khuyến nghị hiện nay của Tổ chức Y tế Thế giới, liệu pháp kháng vi-rút đường uống hàng ngày, bao gồm tenofovir disoproxil fumarate, lamivudine và dolutegravir, nên được sử dụng để kiểm soát nhiễm HIV. Phương pháp này đã có hiệu quả trong việc kiểm soát HIV ở các quốc gia đang phát triển, mặc dù nó đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt lịch dùng thuốc. Liệu pháp điều trị dài hạn với Cabotegravir và Rilpivirine đã cho thấy hiệu quả cao trong các thử nghiệm được tiến hành ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Một bài báo gần đây đăng trên tạp chí y học The Lancet đã so sánh hiệu quả của liệu pháp Cabotegravir và Rilpivirine tác dụng kéo dài với liệu trình thuốc uống hiện tại trong việc kiểm soát HIV.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 10 tháng 7 năm 2024
|
|
Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế Giới xếp vào loại quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi bệnh lao, với 5% trường hợp có biểu hiện kháng đa thuốc. Trước năm 2019, phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh lao đa kháng thuốc và kháng rifampicin bao gồm các loại thuốc được tiêm trong khoảng thời gian 24 tháng. Vào năm 2020, khuyến nghị đã chuyển sang chế độ điều trị bằng đường uống trong 9 tháng. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí y học The Lancet đã đánh giá hiệu quả của chế độ điều trị bằng đường uống ngắn ngày này.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 8 tháng 7 năm 2024
|
|
Sự kết hợp giữa gemcitabine và cisplatin thường được sử dụng để điều trị ung thư đường mật và túi mật dạng nặng, nhưng tỷ lệ sống sót trung bình với chế độ điều trị này là dưới 12 tháng. Durvalumab, một kháng thể đơn dòng, có khả năng tăng cường hoạt động chống ung thư của hệ miễn dịch bằng cách cản sự tương tác ức chế miễn dịch giữa thụ thể PD-1 và PD-1L. AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Durvalumab trong điều trị ung thư đường mật và túi mật giai đoạn muộn.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 5 tháng 7 năm 2024
|
|
Ở nhiều quốc gia châu Á, liệu pháp tiêu chuẩn hiện nay đối với bệnh ung thư dạ dày có thể cắt bỏ bao gồm hóa trị sau phẫu thuật với docetaxel, oxaliplatin và tegafur-gimeracil-oteracil, để giảm thiểu nguy cơ tái phát bệnh. Một bài báo gần đây đăng trên tạp chí The Lancet đã điều tra tác dụng của việc bổ sung chất ức chế thụ thể PD-1, nivolumab, vào chế độ hóa trị liệu để điều trị ung thư dạ dày.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2024
|
|
Khiếm khuyết trong cơ cấu sửa chữa đột biến trong tế bào có ở 15% trường hợp ung thư ruột già không di căn. Hiện nay, những bệnh nhân này được điều trị với liệu trình hóa trị căn bản fluorouracil cộng với oxaliplatin sau phẫu thuật. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây cho thấy phương pháp này có hiệu quả hạn chế. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của việc sử dụng liệu pháp miễn dịch nivolumab cộng với ipilimumab ở những bệnh nhân ung thư ruột già thiếu cơ chế sửa chữa đột biến.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 7 năm 2024
|
|
Việc gia tăng co bóp tim liên quan đến bệnh cơ tim phì đại có thể cản trở lưu thông máu. Mặc dù can thiệp phẫu thuật có thể giải quyết tình trạng này nhưng nó thường không lý tưởng do tính xâm lấn và khả năng cung cấp hạn chế tại các bệnh viện chuyên khoa. Aficamten, một loại thuốc làm giảm khả năng co bóp của tim bằng cách can thiệp vào cầu nối actin-myosin, là một phương pháp điều trị thay thế tiềm năng. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của aficamten trong việc kiểm soát bệnh cơ tim phì đại.
|