​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
ENGLISH

CÁC BÀI ĐĂNG QUÝ 2, 2024:

<<< Xuất Bản Trước
Xuất Bản Sau >>>

Nghiên Cứu Tác Dụng Của Ensitrelvir Lên Việc Điều Trị Nhiễm Các Biến Thể Phụ Omicron Của SARS-CoV-2​

CHỦ ĐỀ: COVID-19
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 28 tháng 6 năm 2024
Picture
Hầu hết các hướng dẫn lâm sàng hiện nay đều khuyến nghị sử dụng remdesivir, molnupiravir hoặc kết hợp ritonavir và nirmatrelvir để kiểm soát tình trạng nhiễm SARS-CoV-2 nghiêm trọng. Tuy nhiên, các nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của các thuốc chống vi-rút này đã được tiến hành trước khi các biến thể phụ Omicron trở nên phổ biến. Với lo ngại rằng các biến thể phụ của Omicron có chứa đột biến có thể làm mất tác dụng của phương pháp điều trị được khuyến nghị hiện tại, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của ensitrelvir - một chất ức chế protease đã được chứng minh là có hiệu quả chống lại Omicron trong các nghiên cứu trên động vật.​
Đọc Tiếp >>>

Mối Liên Quan Giữa Viêm Gan Siêu Vi B ở Mẹ và Dị Tật Tim Bẩm Sinh ở Trẻ

CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Phụ & Sản Khoa, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 26 tháng 6 năm 2024
Picture
Các nghiên cứu trước đa chứng minh rằng việc nhiễm virus rubella, cytomegalovirus và coxsackievirus ở người mẹ trong lúc mang thai gia tăng nguy cơ dị tật tim bẩm sinh. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu điều tra về sử ảnh hưởng của vi rút viêm gan B lên sự phát triển của thai nhi. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) đã báo cáo về mối liên quan giữa viêm gan B của mẹ và dị tật tim bẩm sinh ở trẻ.
Đọc Tiếp >>>

Tăng Hiệu Quả Cai Thuốc Lá Điện Tử Bằng Cytisinicline

CHỦ ĐỀ: Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 6 năm 2024
Picture
Với sự gia tăng phổ biến của vaping và thuốc lá điện tử có chứa nicotin, các cơ quan quản lý đã xác định rằng có lỗ hổng kiến ​​thức về hiệu quả của liệu pháp thay thế nicotin trong việc cai thuốc lá điện tử. Cytisinicline là một chất chủ vận có thể ức chế thụ thể acetylcholine α4β2 nicotinic và có thể làm giảm sự phụ thuộc vào nicotin. Do đó, Viện Lạm dụng Ma túy Quốc gia đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của cytisinicline trong việc cai thuốc lá điện tử.​
Đọc Tiếp >>>

Bổ sung dầu nhuyễn thể ở bệnh nhân viêm xương khớp đầu gối

CHỦ ĐỀ: ​Xương Khớp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 21 tháng 6 năm 2024
Picture
Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện rằng việc bổ sung axit béo không bão hòa đa chất béo omega-3 có thể làm giảm sưng viêm. So với các loại cá bình thường, dầu cá từ loài nhuyễn thể ở Nam Cực có nồng độ axit béo omega-3 cao hơn và nó cũng chứa astaxanthin - một chất chống oxy hóa có thể làm giảm viêm hiệu quả hơn. Do đó, Hội đồng Nghiên cứu Y tế và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ cho một nghiên cứu để kiểm tra tính hiệu quả của dầu nhuyễn thể trong việc giảm viêm và cải thiện sức khỏe của những bệnh nhân bị viêm xương khớp đầu gối.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng thuốc benzodiazepin khi mang thai và nguy cơ sảy thai

CHỦ ĐỀ: Phụ & Sản Khoa, Tâm Lý
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 19 tháng 6 năm 2024
Picture
Thuốc benzodiazepin thường được kê đơn để điều trị chứng lo âu và mất ngủ ở phụ nữ đang mang thai. Tuy nhiên, phân tử này có thể vượt qua hàng rào nhau thai. Do đó đã có nhiều lo ngại rằng chất này có thể làm tăng nguy cơ phát triển thai nhi bất thường và sảy thai. Các nghiên cứu gần đây đã kiểm tra về mối liên hệ này có chứa một số yếu tố gây nhiễu như các căn bệnh đi kèm của người mẹ, lối sống và mức độ nghiêm trọng của chứng lo âu và mất ngủ. Vì vậy, một nghiên cứu trên toàn dân số đã được tiến hành để kiểm tra tác dụng của thuốc benzodiazepin trong tử cung.
Đọc Tiếp >>>

Ngăn ngừa viêm tụy cấp do tăng triglycerid máu bằng oligonucleotide mục tiêu vào protein APOC-3, Olezarsen

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 6 năm 2024
Picture
Hội chứng chylomicron máu gia đình làm tăng nguy cơ viêm tụy cấp do nồng độ chất béo trung tính cao.Các lipoprotein chylomicron và VLDL chịu trách nhiệm vận chuyển chất béo trung tính và chúng có protein APOC3 để ngăn chặn sự thoái hóa trong cơ thể con người. Olezarsen là một oligonucleotide antisense có thể ức chế sự biểu hiện của APOC3 và thúc đẩy quá trình thanh thải chất béo trung tính. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra tác dụng của Olezarsen đối với nguy cơ viêm tụy ở những bệnh nhân mắc hội chứng chylomicron máu gia đình.
Đọc Tiếp >>>

Thúc đẩy quá trình thanh lọc cholesterol LDL ở bệnh nhân nhi bị tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử bằng Alirocumab

CHỦ ĐỀ: Nhi Khoa, Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 14 tháng 6 năm 2024
Picture
Statin và các liệu pháp hỗ trợ hạ lipid khác thường được sử dụng để kiểm soát lipoprotein mật độ thấp (LDL-C) mang cholesterol ở bệnh nhi mắc bệnh cholesterol máu gia đình. PSCK9 đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mức LDL-C cao bằng cách phá hủy thụ thể tế bào có chức năng loại bỏ LDL-C ra khỏi máu. Alirocumab là một kháng thể có thể ức chế PSCK9 và một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá khả năng của nó trong việc thúc đẩy thanh thải LDL-C nhằm kiểm soát tình trạng tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử ở trẻ em.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá Sự Ảnh Hưởng của Thuốc Chống Rối Loạn Thần Kinh Thế Hệ thứ 2 đến Sức Khỏe của Trẻ Em và Thanh Thiếu Niên

CHỦ ĐỀ: Nhi Khoa, Tâm Lý
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 12 tháng 6 năm 2024
Picture
Các nghiên cứu trước đã tìm thấy rằng việc sử dụng thuốc chống rối loạn thần kinh gia tăng nguy cơ liên quan đến các bệnh tim mạch, suy hô hấp, rối loạn chuyển hóa và tử vong ở người lớn. Hiện nay, xu hướng sử dụng thuốc chống rối loạn thần kinh thế hệ thứ 2 ngoài chỉ định ở trẻ em và thanh thiếu niên đang gia tăng. Vì thế Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia Hoa Kỳ đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của thuốc chống rối loạn thần kinh lên sức khỏe của trẻ em và thanh thiếu niên.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Amphetamine/Dextroamphetamine và Methylphenidate trong thời kỳ mang thai và nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ em​

CHỦ ĐỀ: Phụ & Sản Khoa, Nhi Khoa, Tâm Lý
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 10 tháng 6 năm 2024
Picture
Sự gia tăng tỷ lệ rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) ở người lớn đồng nghĩa với việc số lượng thuốc kích thích trị rối loạn tăng động giảm chú ý được kê đơn cũng tăng lên. Tuy nhiên, có một số nghiên cứu còn hạn chế về điều tra tác dụng của những loại thuốc này đối với sự phát triển thần kinh của thai nhi. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc kích thích điều trị ADHD ở người mẹ và nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ.
Đọc Tiếp >>>

Khả năng sử dụng liệu pháp miễn dịch ngoài da để tạo ra sự dung nạp ở trẻ em và thanh thiếu niên bị dị ứng sữa bò​

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, Nhi Khoa​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2024
Picture
Mặc dù chất lượng cuộc sống của những người bị ảnh hưởng bởi dị ứng sữa bò bị giảm đáng kể nhưng hiện tại không có biện pháp can thiệp sinh học nào được phê duyệt ngoài việc phòng tránh. Việc tiếp xúc trực tiếp với chất gây dị ứng đã được thử nghiệm như một công cụ kiểm soát dị ứng đậu phộng. Một bài nghiên cứu được xuất bản gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra việc sử dụng liệu pháp miễn dịch dưới da có chứa chất gây dị ứng sữa để kiểm soát dị ứng sữa bò ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Đọc Tiếp >>>

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung sắt sớm đến sự phát triển thần kinh của trẻ sơ sinh bú sữa mẹ

CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, Tâm Lý, Nhi Khoa​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 5 tháng 6 năm 2024
Picture
Trẻ sơ sinh thiếu máu do thiếu sắt là một vấn đề phổ biến trên toàn cầu và nghiêm trọng hơn ở những cộng đồng có nguồn lực hạn chế. Thiếu máu do thiếu sắt có thể cản trở sự phát triển thần kinh và gây suy giảm nhận thức cũng như các vấn đề về hành vi. Vì hàm lượng sắt trong sữa mẹ thấp nên có nhiều tranh cãi về sự cần thiết phải bổ sung sắt. Nhằm giải đáp về vấn đề này, một nghiên cứu đã được thực hiện ở Ba Lan và Thụy Điển để điều tra tác động của việc bổ sung sắt hàng ngày đối với sự phát triển nhận thức sớm.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng thuốc giải độc Andexanet Alfa nhằm kiểm soát xuất huyết nội sọ do thuốc ức chế yếu tố Xa gây ra

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 3 tháng 6 năm 2024
Picture
Chất ức chế trực tiếp có tính chọn lọc cao yếu tố Xa thường được sử dụng để ngăn ngừa huyết khối. Tuy nhiên, thuốc kháng đông máu làm tăng nguy cơ xuất huyết. Nhằm giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một chất đối kháng chất ức chế có thể được sử dụng làm thuốc giải độc. Andexanet alfa là dạng yếu tố Xa không hoạt động có thể liên kết và vô hiệu hóa thuốc chống đông máu. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của andexanet alfa trong việc ngăn ngừa tử vong và giảm tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến xuất huyết nội sọ do thuốc ức chế yếu tố Xa gây ra.​
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng đồng thời nivolumab và hóa trị liệu dựa trên bạch kim trước và sau phẫu thuật đối với bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể cắt bỏ​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 31 tháng 5 năm 2024
Picture
Nivolumab là một kháng thể đơn dòng tăng cường khả năng loại bỏ tế bào khối u của hệ miễn dịch bằng cách ức chế thụ thể PD-1. Việc sử dụng nivolumab bổ trợ cùng với hóa trị liệu dựa trên platinum đã giảm đáng kể nguy cơ tử vong và tái phát bệnh ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có thể phẫu thuật cắt bỏ. Do đó, một nghiên cứu đã điều tra việc sử dụng nivolumab chu phẫu, trước và sau phẫu thuật, có thể cải thiện kết quả lâm sàng bằng cách vô hiệu hóa các tế bào khối u còn sót lại và ức chế di căn vi mô.
Đọc Tiếp >>>

Kiểm soát tình trạng tăng triglycerid máu với Olezarsen bằng cách trung hòa mNRA của Apoprotein C-III

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 29 tháng 5 năm 2024
Picture
Tăng triglyceride máu có liên quan đến các hậu quả sức khỏe nghiêm trọng như viêm tụy cấp, và hiện nay các phác đồ điều trị vẫn còn giới hạn. Apoprotein C-III (APOC3) là một chất tự nhiên tăng mức triglyceride trong máu bằng cách ức chế lipoprotein lipase và giải độc gan. Do đó, một nghiên cứu mới đã được tiến hành để đánh giá tác động của Olezarsen - một oligonucleotide có thể trung hòa mRNA APOC3 trong việc quản lý tăng triglyceride máu.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng thuốc beta blocker đồng thới với các thuốc tim mạch khác để cải thiện sức khỏe sau nhồi máu cơ tim

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 27 tháng 5 năm 2024
Picture
Việc sử dụng thuốc beta blocker sau khi bị nhồi máu cơ tim đã được báo cáo làm giảm nguy cơ tử vong đến 20%. Tuy nhiên, khuyến cáo về việc sử dụng thuốc đã được đưa ra trước khi có các biện pháp can thiệp hiện đại. Do đó, theo khuyến nghị của tổ chức Cochrane, Hội đồng Nghiên cứu Thụy Điển đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của thuốc beta blocker và các loại thuốc khác trong việc điều trị liên quan đến sức khỏe tim mạch sau nhồi máu cơ tim.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Vosoritide để điều trị chứng thiểu sản bằng cách ức chế con đường truyền tín hiệu thứ 3 của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi​

CHỦ ĐỀ: Nhi Khoa,​ ​Xương Khớp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 5 năm 2024
Picture
Chứng thiểu sản xương có sự đặc trưng bởi sự kích hoạt quá mức của thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 3 (FGFR3), điều này làm gián đoạn quá trình cốt hóa nội bào. Vosoritide là một chất tương tự của peptide natriuretic loại c có thể liên kết và ức chế con đường protein kinase được hoạt hóa bằng mitogen xuôi dòng từ quá trình kích hoạt FGFR3. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Lancet đã điều tra tác dụng của Vosoritide trong việc điều trị chứng giảm sản sụn.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng kháng thể đơn dòng nhắm mục tiêu protein Plasmodium falciparum cirsporozoite được bảo tồn để điều trị dự phòng bệnh sốt rét​

CHỦ ĐỀ: Nhi Khoa,​ ​Truyền Nhiễm
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 22 tháng 5 năm 2024
Picture
Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khuyến nghị về hai loại vắc-xin sốt rét - RTS,S/AS01 và R21/ Matrix-M - dành cho trẻ em. Ngoài ra, điều trị dự phòng bằng hóa chất được khuyến cáo cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị thiếu máu nặng. CIS43LS là một kháng thể đơn dòng có thể liên kết với protein Plasmodium falciparum cirsporozoite được bảo tồn và vô hiệu hóa ký sinh trùng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng CIS43LS có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng ở người lớn. Vì vậy, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CIS43LS trong việc ngăn ngừa bệnh sốt rét ở trẻ em.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả hỗ trợ dinh dưỡng ở trẻ non tháng từ trung bình đến muộn

CHỦ ĐỀ: Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 20 tháng 5 năm 2024
Picture
Nguy cơ chậm phát triển, bệnh tim chuyển hóa và tử vong cao hơn đáng kể ở trẻ sinh non từ 32 đến 36 tuần. Tuy nhiên, hiện tại có một khoảng trống nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của nhóm dân số này. Vì vậy, Hội đồng Nghiên cứu Y tế New Zealand đã tài trợ một nghiên cứu để kiểm tra hiệu quả của các can thiệp hỗ trợ dinh dưỡng khác nhau đối với thành phần mỡ cơ thể và thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh sinh non.
Đọc Tiếp >>>

Empagliflozin và việc phòng ngừa suy tim sau nhồi máu cơ tim

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 5 năm 2024
Picture
Trước đây, người ta đã quan sát thấy rằng điều trị bằng thuốc ức chế natri-glucose cotransporter 2 (SGLT2) giúp cải thiện kết quả tim mạch ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm. Do nguy cơ suy tim tăng cao sau cơn nhồi máu cơ tim, một nghiên cứu đã được bắt đầu để khám phá tiềm năng của empagliflozin như một biện pháp phòng ngừa.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Pembrolizumab trong điều trị bổ trợ cho ung thư biểu mô tế bào thận

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 15 tháng 5 năm 2024
Picture
Vẫn có một số lượng hạn chế trong phương pháp điều trị bổ trợ đã được phê duyệt đối với ung thư biểu mô tế bào thận sau phẫu thuật cắt bỏ. Vào năm 2021, Pembrolizumab - một loại kháng thể nhắm vào protein chết tế bào 1 (PD-1) được lập trình đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt sau khi mang lại những kết quả tạm thời đầy hứa hẹn. Một bài báo gần đây trên Tạp chí Y học New England cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn từ giai đoạn cuối của nghiên cứu đánh giá hiệu quả của pembrolizumab như một phương pháp điều trị bổ trợ cho ung thư biểu mô tế bào thận sau phẫu thuật cắt bỏ.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị Semaglutide cải thiện kết quả lâm sàng ở bệnh nhân béo phì bị suy tim​

CHỦ ĐỀ: ​Tiểu Đường & Nội Tiết,​ ​Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 13 tháng 5 năm 2024
Picture
Sự gia tăng tỷ lệ béo phì song song với sự gia tăng xuất hiện suy tim với phân suất tống máu bảo tồn. Bệnh tiểu đường loại 2 (T2DM) có liên quan chặt chẽ với cả hai tình trạng này và những người mắc bệnh suy tim kèm theo T2DM phải chịu gánh nặng bệnh cao hơn và các bất lợi tim mạch khác. Một nghiên cứu gần đây nhằm đánh giá tiềm năng của Semaglutide, một chất đối kháng thụ thể peptide 1 giống glucagon thường được kê đơn cho bệnh đái tháo đường loại 2, trong điều trị suy tim với phân suất tống máu bảo tồn ở bệnh nhân béo phì.
Đọc Tiếp >>>

Khám phá hiệu quả của D-Mannose trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu,​ ​Truyền Nhiễm
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 10 tháng 5 năm 2024
Picture
D-mannose là một đồng phân tự nhiên của glucose và nó có thể liên kết với các sợi vi khuẩn để ức chế sự bám dính vào các tế bào biểu mô. Một nghiên cứu gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã khám phá tiềm năng của nó trong việc ngăn ngừa sự xâm nhập của mầm bệnh tiết niệu trong trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của Guselkumab trong điều trị bệnh vảy phấn

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 5 năm 2024
Picture
Bệnh vảy phấn đỏ nang lông là một tình trạng viêm hiếm gặp có cơ chế hoạt động của hệ miễn dịch tương tự với bệnh vẩy nến như interleukin-23 tăng cao và kích hoạt tế bào T-helper 17. Bệnh vẩy nến có thể được điều trị bằng guselkumab, một kháng thể có thể liên kết với IL-23p19, và công ty dược phẩm Janssen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị bệnh vảy phấn hồng.
Đọc Tiếp >>>

Nghiên cứu so sánh Minoxidil dạng uống và dạng bôi ngoài da đối với chứng rụng tóc do nội tiết tố nam ở nam giới

CHỦ ĐỀ: Da Liễu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 6 tháng 5 năm 2024
Picture
Hiện nay, phương pháp được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt đối với điều trị chứng rụng tóc nội tiết tố nam ở nam giới là finasteride qua đường uống và minoxidil dạng bôi ngoài da. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng có dẫn đến các tác dụng phụ như suy giảm sinh lý và kích ứng da đầu. Do đó, Hiệp hội Da liễu Brazil đã thực hiện một nghiên cứu để khám phá tính khả thi của việc sử dụng minoxidil đường uống nhằm kiểm soát chứng rụng tóc nội tiết tố nam.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá tính hiệu quả của Azithromycin đối với chứng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh non tháng

CHỦ ĐỀ: Hô Hấp, Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 3 tháng 5 năm 2024
Picture
Liên quan đến vấn đề sinh non, trẻ sinh trước 30 tuần thai có nguy cơ cao mắc chứng loạn sản phế quản phổi - một tình trạng bị gây ra bởi sự phát triển của phổi bị gián đoạn. Các yếu tố như vi khuẩn Ureaplasma xâm nhập vào phổi và tình trạng viêm do bạch cầu trung tính gây ra góp phần vào nguy cơ này. Azithromycin - một loại kháng sinh macrolide có khả năng chống lại vi khuẩn và có liên quan đến việc giảm hoạt động của bạch cầu trung tính và hóa ứng động. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của azithromycin trong việc kiểm soát chứng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh non tháng.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Plozasiran trong việc kiểm soát chứng tăng triglycerid máu

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 1 tháng 5 năm 2024
Picture
Tăng Triglyceride máu nguyên phát liên quan đến việc tăng khả năng phát triển bệnh tim mạch xơ vữa động mạch, gan nhiễm mỡ không do rượu và viêm tụy cấp. Protein APOC3 được biết đến là có vai trò quan trọng trong vấn đề nêu trên vì nó gây ảnh hưởng trong việc cản trở sự phân hủy các lipoprotein và chylomicron giàu chất béo trung tính. Plozasiran - một RNA can thiệp nhỏ nhằm mục tiêu vào và làm suy giảm mRNA mã hóa protein APOC3. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của nó trong việc giải quyết tình trạng tăng triglycerid máu.
Đọc Tiếp >>>

Nghiên cứu hiệu quả của Alectinib, một chất ức chế ALK, trong bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ALK

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Hô Hấp, Thần Kinh
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 29 tháng 4 năm 2024
Picture
Khoảng 5% trong số tất cả các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) biểu hiện sự sắp xếp lại gen anaplastic lympho kinase (ALK). Tập hợp con cụ thể này của NSCLC có thể được điều trị bằng hóa trị liệu kết hợp dựa trên bạch kim; tuy nhiên, phác đồ điều trị này có những cải thiện khiêm tốn về tỷ lệ sống sót và có nguy cơ tái phát bệnh tương đối cao. Alectinib là một chất ức chế ALK và một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong việc quản lý NSCLC dương tính với ALK.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá Elafibranor như một phương pháp điều trị viêm đường mật nguyên phát

CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 26 tháng 4 năm 2024
Picture
Sự phá hủy ống mật ở bệnh nhân viêm đường mật nguyên phát dẫn đến sự tích tụ mật có thể gây viêm và cuối cùng là xơ gan. Axit Ursodeoxycholic và axit obeticholic là hai phương pháp điều trị đã được phê duyệt để điều trị các tình trạng bảo vệ tế bào gan và tế bào cholangiocytes khỏi tổn thương do axit mật gây ra. Tuy nhiên, phác đồ điều trị này không mang lại hiệu quả trong khoảng một nửa số bệnh nhân được điều trị. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá khả năng của elafibranor - một chất chủ vận PPAR có thể làm giảm độc tính của mật và giảm viêm nhằm kiểm soát viêm đường mật nguyên phát.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá sự kết hợp Nirmatrelvir-Ritonavir trong điều trị SARS-CoV-2 cho bệnh nhân đã được tiêm chủng và chưa được tiêm chủng

CHỦ ĐỀ: COVID-19
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 4 năm 2024
Picture
Hiện nay, sự kết hợp giữa 2 loại kháng vi-rút nirmatrelvir và ritonavir được sử dụng rộng rãi để điều trị nhiễm SARS-CoV-2. Việc sủ dụng liều trình này đã được công nhận mang lại sự hiệu ở người lớn chưa tiêm chủng. Tuy nhiên, tỷ lệ hiệu quả của chúng vẫn chưa được xác nhận rõ ràng khi so sánh giữa nhóm nhưng người đã tiêm vắc-xin và chưa được tiêm vắc-xin. Một nghiên cứu gần đây được đăng trên Tạp chí Y học New England đã điều tra mối tương tác giữa nirmatrelvir và tiêm chủng SARS-CoV-2.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của Lixisenatide trong việc kiểm soát sự tiến triển của bệnh Parkinson

CHỦ ĐỀ: Thần Kinh
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 22 tháng 4 năm 2024
Picture
Phần lớn các liệu trình can thiệp sinh học của bệnh Parkinson là tập trung vào liệu pháp thay thế dopamine do sự thiếu hụt dopamine liên quan đến căn bệnh này. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây đã xác định nguy cơ mắc bệnh Parkinson cao hơn ở những người mắc bệnh tiểu đường loại 2. Điều thú vị là những người được điều trị bằng chất chủ vận thụ thể peptide 1 giống glucagon (GLP-1R) dường như có nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp nhất. Để giải đáp những phát hiện này, Bộ Y tế Pháp đã tài trợ một cuộc nghiên cứu nhằm điều tra tiềm năng của việc sử dụng Lixisenatide - chất chủ vận GLP-1R thường được kê đơn cho bệnh tiểu đường loại 2 để điều trị bệnh Parkinson.
Đọc Tiếp >>>

Liệu pháp kết hợp giữa Ribociclib và NSAIs đối với bệnh ung thư vú dương tính với HR2, HER2 âm tính

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 19 tháng 4 năm 2024
Picture
Các khối u ung thư vú biểu hiện thụ thể nội tiết (HR) nhưng không biểu hiện thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2) tạo thành loại ung thư vú phổ biến nhất. Ribociclib - một chất ức chế kinase phụ thuộc cyclin 4 và 6 đã chứng minh được độ hiệu quả trong việc ngăn chặn sự tiến triển của khối u và thường được sử dụng trong điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của Ribociclib trong điều trị ung thư vú âm tính với HR2, HR2 giai đoạn đầu.
Đọc Tiếp >>>

Điều tra việc sử dụng thuốc chống động kinh khi mang thai và nguy cơ mắc bệnh tự kỷ ở trẻ em

CHỦ ĐỀ: Thần Kinh, ​Phụ & Sản Khoa, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 17 tháng 4 năm 2024
Picture
Trong thời kỳ mang thai, việc sử dụng thuốc có sự ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thai nhi. Những phụ nữ bị mắc chứng động kinh thường cần dùng thuốc chống động kinh trong suốt thai kỳ. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện rằng một số loại thuốc như topiramate, valproate và lamotrigine ảnh hưởng tiêu cực lên sự phát triển thần kinh của bào thai. Do đó, Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu để điều tra sự quan hệ giữa việc sử dụng thuốc chống động kinh của người mẹ và nguy cơ rối loạn phổ tự kỷ ở các trẻ.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của việc tiêm chủng cho phụ đang mang thai bằng vắc xin RSVPreF3-Mat trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng RSV ở trẻ em

CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Phụ & Sản Khoa, ​Nhi Khoa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 15 tháng 4 năm 2024
Picture
Tiêm chủng cho phụ nữ đang mang thai đã được chứng minh là một chiến lược hiệu quả để bảo vệ trẻ nhỏ khỏi bệnh tật. RSVPreF3-Mat là vắc-xin tiểu đơn vị nhắm mục tiêu RSV được thiết kế dành riêng cho phụ nữ đang thai. Thành phần bao gồm protein tổng hợp RSV ở dạng tiền pha của nó. Công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã hỗ trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của văc-xin RSVPreF3-Mat trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ em.​
Đọc Tiếp >>>

Sự kết hợp Enfortumab Vedotin và Pembrolizumab nhằm chống lại ung thư biểu mô tiết niệu

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 12 tháng 4 năm 2024
Picture
Hóa trị liệu bạch kim từ lâu đã là phương pháp điều trị thông thường đối với ung thư biểu mô đường tiết niệu, nhưng hiệu quả của nó vẫn còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ sống sót sau 5 năm mắc bệnh là rất thấp. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy kết quả đầy hứa hẹn với sự kết hợp của enfortumab vedotin, một kháng thể nhắm mục tiêu nectin-4 - một phân tử bám dính tế bào được biểu hiện quá mức trên các tế bào khối u - và pembrolizumab, một chất ức chế PD-1. Trước những phát hiện này, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hoạt tính chống ung thư được tăng cường của sự kết hợp enfortumab vedotin và pembrolizumab chống lại ung thư biểu mô đường tiết niệu.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của Omalizumab trong điều trị dị ứng nhiều loại thực phẩm

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2024
Picture
Dị ứng thực phẩm là một tình trạng phổ biến ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi, nhiều người trong số họ bị dị ứng với nhiều loại thực phẩm khác nhau. Hiện nay, chỉ có dị ứng đậu phộng mới có thể điều trị được bằng liệu pháp miễn dịch đường uống nhưng nó có liên quan đến nhiều tác dụng phụ và không thể giải quyết được nhiều loại dị ứng thực phẩm khác. Omalizumab là một kháng thể có thể vô hiệu hóa IgE và đã được phê duyệt để điều trị bệnh hen suyễn dị ứng và nổi mề đay. Vì vậy, Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá việc sử dụng Omalizumab trong điều trị nhiều loại dị ứng thực phẩm.
Đọc Tiếp >>>

Chức năng nhận thức suy giảm sau khi nhiễm SARS-CoV-2

CHỦ ĐỀ: COVID-19
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 4 năm 2024
Picture
Mối liên hệ tiềm ẩn giữa việc nhiễm SARS-CoV-2 và sự suy giảm chức năng nhận thức, trí nhớ đã được phát hiện trong nhiều bài báo cáo gần đây. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm ủng hộ mối liên hệ này vẫn còn khá khan hiếm. Do đó, Viện Nghiên cứu Chăm sóc và Sức khỏe Quốc gia tại Vương quốc Anh đã khởi xướng và tiến hành một nghiên cứu quan sát nhằm làm sáng tỏ tác động của việc nhiễm SARS-CoV-2 đối với trí nhớ và chức năng nhận thức.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Seladelpar trong điều trị viêm đường mật nguyên phát

CHỦ ĐỀ: Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 5 tháng 4 năm 2024
Picture
Viêm đường mật nguyên phát là một chứng rối loạn gan hiếm gặp gây ảnh hưởng đến ống mật và dẫn đến tích tụ axit mật độc hại; hiện chỉ có một phương pháp điều trị được FDA chấp thuận: axit ursodeoxycholic. Tuy nhiên, loại thuốc này có liên quan đến các tác dụng phụ đáng kể như ngứa và chỉ cho thấy tỷ lệ đáp ứng vừa phải. Seladelpar là một tác nhân mới có khả năng kích hoạt thụ thể Delta được kích hoạt bằng chất tăng sinh (PPAR-delta) để giảm thiểu sự tích tụ axit mật. Tác nhân này đã được đánh giá về hiệu quả của nó trong điều trị viêm đường mật nguyên phát trong một nghiên cứu gần đây.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của việc can thiệp trễ Tenecteplase đối với tan huyết khối muộn trong đột quỵ do thiếu máu cục bộ

CHỦ ĐỀ: Tim Mạch
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 3 tháng 4 năm 2024
Picture
Sử dụng thuốc tiêu huyết khối như alteplase trong vòng 4,5 giờ sau cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ hiện là liệu trình điều trị tiêu chuẩn. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến nghị sử dụng tenecteplase - một loại alteplase với mục đích tiêu huyết khối. Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng thuốc tiêu huyết khối sau 4,5 giờ kể từ khi khởi phát bệnh vẫn chưa được hiểu rõ. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của việc can thiệp chậm trễ.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của liệu trình kết hợp Cefepime-Taniborbactam trong nhiễm trùng đường tiết niệu phức tạp

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu,​ ​Truyền Nhiễm
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 1 tháng 4 năm 2024
Picture
Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) là một căn bệnh phổ biến được điều trị thành công bằng kháng sinh beta-lactam như cefepime - một loại cephalosporin thế hệ thứ tư. Tuy nhiên, đã xuất hiện sự đề kháng kháng sinh, đặc biệt ở dạng beta-lactamease. Vì vậy, một chất ức chế beta-lactamase mới Taniborbactam đã được chọn nhằm kết hợp với cefepime để điều trị UTI trong một nghiên cứu gần đây.​
Đọc Tiếp >>>

Tác Động Của Việc Sử Dụng Garô Lên Hiệu Quả Của Cefazolin Trong Phẫu Thuật Thay Khớp Gối Toàn Phần


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, ​Xương Khớp
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 30 tháng 9 năm 2024
Picture
Nhiễm trùng sau phẫu thuật là biến chứng đáng kể thường thấy ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật thay khớp gối toàn phần. Để ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn thuộc họ Staphylococcus và Streptococcus, cefazolin thường được tiêm tĩnh mạch trước khi phẫu thuật. Tuy nhiên, việc sử dụng garô, giúp cải thiện quá trình gắn xương trong quá trình phẫu thuật, có thể hạn chế lưu lượng máu và giảm hiệu quả của kháng sinh dự phòng. Để tìm hiểu tác động của việc áp dụng garô đối với hiệu quả của kháng sinh, một nhóm các bác sĩ từ Đại học McGill đã tiến hành một nghiên cứu.​
Đọc Tiếp >>>
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues