|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 3 năm 2024
|
|
Sự tương tác giữa CD40 và CD40L đóng vai trò then chốt trong việc kích hoạt hệ thống miễn dịch. Ở những người mắc bệnh đa xơ cứng, biểu hiện CD40L tăng cao sẽ thúc đẩy phản ứng tế bào lympho T mạnh mẽ và góp phần vào sự tiến triển của bệnh. Frexalimab là một kháng thể được tạo ra để bám vào CD40L và gây cản trở sự tương tác nêu trên với hứa hẹn sẽ giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một nghiên cứu gần đây đánh giá hiệu quả của Frexalimab trong việc kiểm soát bệnh đa xơ cứng đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2024
|
|
Bệnh vẩy nến phát sinh từ phản ứng viêm do interleukin-23 (IL-23) điều phối; vì vậy các phương pháp điều trị hiện tại tập trung hướng vào cytokine này. Hiện nay có nhiều liệu pháp đang nhắm đến IL-23 được biết như là liệu pháp sinh học cần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da, tuy nhien, các liệu pháp này gây ra sự bất tiện trong việc điều trị. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của JNJ-77242113 - một chất đối kháng thụ thể IL-23 mới có thể dùng bằng đường uống trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 3 năm 2024
|
|
Qua thời gian phát triển kinh tế gần đây, tỷ lệ mắc bệnh viêm gan nhiễm mỡ không do rượu bia ở Việt Nam đang gia tăng. Tuy nhiên, hiện tại không có phương pháp điều trị nào được phê duyệt cho tình trạng này. Resmetirom là một dược phẩm mới có khả năng kích hoạt thụ thể hormone tuyến giáp beta (THR-β) trong gan và kích hoạt lại quá trình oxy hóa axit béo để giảm thiểu nguy cơ xơ hóa. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của Resmetirom trong điều trị viêm gan nhiễm mỡ không do rượu bia.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 22 tháng 3 năm 2024
|
|
Thai kỳ là thời gian đầy thách thức phức tạp cho cả mẹ và thai nhi, vì thế việc chữa hoặc phòng bệnh bằng thuốc hoặc tiêm chủng phải được xem xét kỹ. Do đó, vắc xin ngừa COVID-19 đã trải qua quá trình thử nghiệm nghiêm ngặt để xác định tính an toàn của chúng đối với việc mang thai và sự phát triển sau này của trẻ. Một nghiên cứu điều tra tác động của việc tiêm chủng ngừa COVID-19 của mẹ đối với sự phát triển thần kinh của con cái đã được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association).
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 3 năm 2024
|
|
Hiện tại cộng đồng y khoa vẫn chưa thống nhất về biện pháp khử trùng trước khi phẫu thuật xương khớp. Các hợp chất như chlorhexidine, cồn isopropyl, và iodophor thường được sử dụng. Nhưng, không có sự đồng đều ở công thức và nồng độ của các hợp chất trên ở các cơ sở y tế khác nhau. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để khỏa xát công thức khử trùng tốt nhất để chuẩn bị cho phẫu thuật xương khớp.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 18 tháng 3 năm 2024
|
|
Để ngăn ngừa bệnh sốt xuất huyết, hiện có 2 loại vắc xin đã được phê duyệt: Dengvaxia và Qdenga. Việc sử dụng Dengvaxia được giới hạn ở các vùng đang có nhiều ca sốt xuất huyết để ngăn ngừa nhiễm trùng nặng ở những người có miễn dịch chưa đầy đủ. Mặc dù Qgenda có hiệu quả cao nhưng cần phải tiêm một loạt 2 liều. Vì vậy, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Butantan–Dengue, một loại vắc xin đơn liều, trong phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 15 tháng 3 năm 2024
|
|
Các trẻ sinh non có nguy cơ cao bị nhiễm trùng huyết, viêm ruột và loạn sản phế quản phổi. Những tình trạng có thể góp phần gây ra các vấn đề về phát triển thần kinh. Sữa mẹ có khả năng giảm những rủi ro này và thúc đẩy sự phát triển thần kinh. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của sữa mẹ so với sữa công thức dành cho trẻ sinh non đối với sự phát triển thần kinh của trẻ non tháng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 3 năm 2024
|
|
Tổ chức Y tế Thế giới ủng hộ việc phân phối azithromycin hàng loạt trong cộng đồng hai năm một lần cho trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi sống ở những vùng có tỷ lệ tử vong ở trẻ em cao. Phương pháp can thiệp dạng rộng này giúp giảm 25% nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình quy mô lớn đòi hỏi phải có sự phối hợp hậu cần sâu rộng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu việc sử dụng azithromycin trong các lần khám định kỳ có mang lại kết quả tương đương hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 3 năm 2024
|
|
Suy tuyến sinh dục ở nam giới dưới dạng rối loạn chức năng tinh hoàn hoặc tuyến yên có liên quan đến việc giảm mật độ xương. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng liệu pháp testosterone có thể đảo ngược tình trạng thiếu xương này. Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó có những hạn chế về thời lượng và số lượng người tham gia. Do đó, một nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của testosterone trong việc ngăn ngừa gãy xương ở nam giới bị suy sinh dục.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 3 năm 2024
|
|
Huyết áp cao khi mang thai gây nguy hiểm cho sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Từ năm 2011, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo bổ sung canxi từ 1500 mg đến 2000 mg để giảm nguy cơ tiền sản giật. Tuy nhiên, liều lượng cao gây ra những hạn chế về chi phí và thách thức đối với việc tuân thủ điều trị, đặc biệt ở những nơi có nguồn lực hạn chế. Do đó, Quỹ Bill và Melinda Gates đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của việc giảm liều canxi trong việc ngăn ngừa tăng huyết áp khi mang thai.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2024
|
|
Transthyretin (TTR) là một hormone vận chuyển quan trọng có chức năng sắp xếp tetramer. Đột biến có thể dẫn đến sự phân ly monome từ tetramer, dẫn đến sự lắng đọng của nó trong cơ tim và gây ra bệnh cơ tim amyloid transthyretin. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của Acoramidis, một chất ổn định TTR có ái lực gắn kết cao, trong điều trị bệnh cơ tim amyloid transthyretin.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2024
|
|
Đột biến ở thụ thể tyrosine kinase ROS1 chiếm 2% trong tổng số các trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Hiện nay, Crizotinib và Entrecitinib là hai chất ức chế ROS1 đang được sử dụng. Tuy nhiên, sự hiệu quả của hai loại thuốc trên tương đối giới hạn bởi vì tình trạng đề kháng đã xuất hiện ở hơn nửa số trường hợp. Và hoạt động trong não của thuốc không tốt và vô hiệu hóa trong các tình huống di căn. Repotrecitinib, một chất đối kháng ROS1 phân tử nhỏ mới, đại diện cho một lựa chọn thế hệ tiếp theo có khả năng thâm nhập vào não dễ dàng và không phụ thuộc vào cơ chế đề kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã công bố những phát hiện về hiệu quả của Repotrecitinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ROS1.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 3 năm 2024
|
|
Do lưu lượng máu lưu thông không đều ở những bệnh nhân bị rung tâm nhĩ (AFib), nên nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ tăng cao. Do đó, các bệnh nhân bị AFib thường được dùng thuốc ức chế Vitamin K và thuốc chống đông máu để giảm nguy cơ đông máu. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng Apixaban hiệu quả hơn Aspirin trong việc giảm tỷ lệ tắc mạch phổi và đột quỵ và không tăng nguy cơ xuất huyết. Do đó, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá khả năng dùng Apixaban trong việc kiểm soát nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân rung nhĩ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc tiếp xúc với các loại khí ô nhiễm trong nhà có khả năng dẫn đến việc chậm phát triển ở các trẻ sơ sinh. Tuy rằng cơ chế không rõ, có khả năng rằng chất thải gia tăng mức độ oxi hóa dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch và gây ra tình trạng thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng.Ở các quốc gia kém và đang phát triển, các trẻ sơ sinh có khả năng tiếp xúc với khí ô nhiễm tại gia cao vì các bé có thời gian lớn ở nhà, đặc biệt khi gia đình sử dụng than hoặc củi để nấu ăn và tạo nhiệt. Tổ chức của Bill và Melinda Gates đã đầu tư một nghiên cứu điều tra liệu sử dụng nguồn nhiên liệu ít ô nhiễm như khí ga lỏng có thể giảm nguy cơ chậm phát triển.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 26 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc tiếp xúc với các chất thải ô nhiễm trong nhà gia tăng 30% rủi ro tử vong do viêm phổi nhi khoa. Các nghiên cứu quan sát trước đã ghi nhận việc tiếp xúc với các chất thải có bán kính nhỏ hơn 2.5 micrometer (PM2.5) gia tăng rủi ro viêm phổi. Việc đốt các nhiên liệu sinh khối như củi và than thải ra rất nhiều các chất ô nhiễm trên. Do tỷ lệ dùng nhiên liệu sinh khối cao ở các quốc gia có thu nhập thấp và vừa, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh sử ảnh hưởng của nhiên liệu sinh khối và khí ga lỏng lên hệ hô hấp nhi khoa.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 2 năm 2024
|
|
Bệnh thận IgA là nguy cơ hàng đầu dẫn đến bệnh viêm cầu thận. Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch của người bệnh sản xuất kháng thể IgA không có galactose mà các kháng thể khác có thể bám vào để hình thành các hợp thể mà cầu thận không đào thải được. Một nghiên cứu đã khám phá sự hiệu quả của Sibeprenlimab trong việc quản lý bệnh thận IgA. Thuốc hoạt động bằng cách ức chế protein APRIL, một protein quan trọng trong hoạt động miễn dịch của tế bào B.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 21 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc trữ nước do quá trình nội tiết renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) gia tăng nguy cơ viêm cầu thận phân đoạn khu trú. Sử dụng các dược phẩm ức chế quá trình RAAS đã có sự hiệu quả trong việc giảm protein niệu và ảnh hưởng lên thận. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh sự hiệu quả của Sparsentan, thuốc ức chế thụ thể endothelin-angiotensin, với Irbesartan, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II trong việc quản lý bệnh viêm cầu thận phân đoạn khu trú.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 2 năm 2024
|
|
Nirsevimab là một kháng thể đơn dòng nhắm vào dạng tiền hợp nhất của protein F trên virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ em. Gần đây Nirsevimab đã được chấp thuận sử dụng ở Hoa Kỳ và Liên minh Châu u để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới do RSV gây ra ở trẻ em. Với thời gian bán thải kéo dài, một nghiên cứu đã khám phá tiềm năng của Nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ trong tình trạng khỏe mạnh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 2 năm 2024
|
|
Sau cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ thoáng qua, 10% bệnh nhân bị đột quỵ tái phát trong vòng 90 ngày. Aspirin, được biết đến với đặc tính kháng tiểu cầu và là một liệu pháp quản lý phổ biến. Để hiểu biết hơn về những lợi ích tổng hợp tiềm năng của Aspirin, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá độ hiệu quả của liệu pháp kép với aspirin và clopidogrel.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 2 năm 2024
|
|
Phụ nữ phải chịu gánh nặng hậu quả nặng nề do các bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ra nhiều hơn so với nam giới hoặc người chuyển giới nữ. Với tỷ lệ mắc bệnh chlamydia, lậu và giang mai ngày càng tăng. Vì vậy, sự tập trung đổi mới vào việc hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa là thực sự cần thiết. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá những lợi ích tiềm năng của doxycycline sau khi phơi nhiễm bệnh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 2 năm 2024
|
|
Trẻ sinh non phải đối mặt với nguy cơ mắc hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh do tình trạng phổi kém phát triển. Phương pháp quản lý thông thường như là thở áp lực dương liên tục (CPAP) mang lại kết quả dưới mức tối ưu ở trẻ sơ sinh. Với mức độ chất hoạt động bề mặt bị thiếu hụt – một sự pha trộn quan trọng giữa phospholipid và protein có thể ngăn ngừa xẹp phế nang. Vì vậy, việc đặt ống nội khí quản trở nên cần thiết để sử dụng chất hoạt động bề mặt. Tuy nhiên, đặt nội khí quản ở trẻ sơ sinh có liên quan đến nhiều tác dụng phụ khác nhau. Do đó, một nghiên cứu điều tra khả năng nâng cao kết quả hô hấp thông qua việc sử dụng chất hoạt động bề mặt hầu họng để dự phòng trước khi áp dụng CPAP.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 2 năm 2024
|
|
Hiện nay, thuốc mỡ bôi ngoài da corticosteroid là phương pháp điều trị tại nhà được lựa chọn cho bệnh viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này có liên quan đến các tác dụng phụ toàn thân đáng kể. Phản ứng miễn dịch cơ bản trong những tình trạng này được thúc đẩy bởi các cytokine từ tế bào T trợ giúp loại 2, bao gồm IL-4, IL-13, TNF-alpha và các loại khác. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá tiềm năng của PF-07038124 - một chất ức chế phosphodiesterase-4 có khả năng phá vỡ sự khuếch đại tín hiệu nội bào trong điều trị viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 2 năm 2024
|
|
Tirzepatide được sử dụng rộng rãi để kiểm soát bệnh tiểu đường nhờ khả năng tăng cường insulin và xu hướng giảm cân ở những bệnh nhân đang điều trị. Do đó, một nghiên cứu gần đây được đăng trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ nhằm xem xét tác động của việc sử dụng lâu dài Tirzepatide đối với việc kiểm soát cân nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 2 năm 2024
|
|
U hắc tố màng bồ đào là một dạng ung thư da hiếm gặp liên quan đến mắt và là một thách thức khác biệt so với u ác tính ở da. Một khi sự di căn xảy ra và tiên lượng trở nên xấu hơn dẫn đến tỷ lệ sống trung bình là một năm. Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch thường mang lại hiệu quả trong điều trị khối u ác tính ở da, tuy nhiên, chúng không hiệu quả đối với khối u ác tính ở màng bồ đào. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Tebentafusp - một thụ thể tổng hợp đặc hiệu kép được thiết kế để tăng cường khả năng trung hòa các tế bào u ác tính màng bồ đào được làm giàu bằng gp100 bởi tế bào T.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 2 năm 2024
|
|
Vắc xin cúm thông thường thường được sản xuất bằng trứng gà, dẫn đến khả năng đột biến kháng nguyên hemagglutinin và sự không phù hợp giữa vắc xin và vi rút lưu hành. Vắc-xin cúm tứ giá FluBlok của Sanofi sử dụng quy trình tái tổ hợp giúp loại bỏ nhu cầu về trứng gà, do đó làm giảm khả năng xảy ra sự không phù hợp liên quan đến đột biến. Những phát hiện của một nghiên cứu đánh giá hiệu quả vắc xin của vắc xin cúm tứ giá FluBlok tái tổ hợp (RIV4) gần đây đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 31 tháng 1 năm 2024
|
|
Các loại vắc xin hiện có được thiết kế để bảo vệ chống lại vi rút hợp bào hô hấp (RSV) sử dụng glycoprotein F tiền hợp nhất (preF) làm kháng nguyên chính nhằm chứng minh tính hiệu quả của chúng. Moderna là một công ty dược phẩm gần đây đã sử dụng công nghệ mRNA và trước đây được sử dụng cho vắc xin SARS-CoV-2 để tạo ra protein RSV. Kết quả của một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của vắc xin RSV preF mRNA đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 1 năm 2024
|
|
Semaglutide là một peptide giống glucagon 1 (GLP-1) và thường được sử dụng trong việc điều trị bệnh tiểu đường nhờ khả năng kích thích sản xuất insulin. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng GLP-1 làm giảm khả năng xảy ra các biến cố tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí Y học New England nhằm đánh giá xem liệu tác dụng bảo vệ của Semaglutide ở bệnh nhân tiểu đường có mở rộng đến những người thừa cân và béo phì không mắc bệnh tiểu đường hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
|
|
Ung thư biểu mô buồng trứng được coi là khối u phụ khoa nguy hiểm nhất được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên bạch kim đã được chứng minh độ hiệu quả. Tuy nhiên, trong các trường hợp tái phát, những khối u này phát triển khả năng đề kháng với các phương pháp điều trị dựa trên bạch kim. Đáng chú ý hơn là những khối u này biểu hiện sự tăng cao bất thường của alpha thụ thể folate (FRa). Nhằm giải quyết vấn đề này, Mirvetuximab Soravtansine-gynx đã được thử nghiệm. Thuốc là một loại kháng thể nhắm vào FRa được liên hợp với maytansinoid DM4 để hoạt động trên tubulin của tế bào. Một nghiên cứu gần đây khám phá tác động của Mirvetuximab Soravtansine-gynx đối với bệnh ung thư buồng trứng biểu mô và đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
|
|
Bệnh tiểu đường loại 1 biểu hiện thông qua sự tấn công tự miễn dịch vào các tế bào beta tuyến tụy chịu trách nhiệm sản xuất insulin. Vì vậy, việc làm suy giảm phản ứng miễn dịch này có thể có khả năng trì hoãn sự khởi phát của bệnh tiểu đường. Teplizumab là một kháng thể có khả năng liên kết với tế bào T CD3 và ức chế phản ứng của chúng đã nhận được sự chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm để điều trị ngắn hạn ở bệnh tiểu đường loại 1. Do đó, công ty dược phẩm sinh học Sanofi đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm khám phá khả năng kéo dài thời gian điều trị bằng Teplizumab để làm chậm thêm sự tiến triển của bệnh tiểu đường loại 1.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong mỗi 100 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, có khoảng 3 đến 4 người biểu hiện đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin #12 của protein KRAS. Sự thay đổi di truyền cụ thể này có liên quan đến tiên lượng ảm đạm và đáp ứng hạn chế với các phương pháp điều trị thông thường. Trong khi Sotarasib, một chất ức chế nhắm vào KRAS đột biến, đã chứng minh hiệu quả trong bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, thì hiệu quả của nó lại bị cản trở ở bệnh ung thư đại trực tràng do sự phát triển của sức đề kháng, đặc biệt là thông qua việc kích hoạt lại thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) con đường. Do đó, một nghiên cứu, được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ của Amgen, đã được thực hiện để đánh giá tác động của việc kết hợp Sotarasib với Panitumumab, một chất ức chế EGFR, trong điều trị ung thư đại trực tràng chứa KRAS G12C đột biến.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 1 năm 2024
|
|
Các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường Loại 1 cần phải bổ sung insulin do tuyến tụy của họ không có khả năng tạo ra đủ insulin. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc bảo vệ các tế bào beta sản xuất insulin còn sót lại có thể giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của bệnh. Baricitinib, một chất ức chế JAK, có khả năng cản trở hoạt động phá hủy của tế bào T CD8 tự phản ứng. Do đó, một nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng của Baricitinib trong việc ngăn chặn các phản ứng tự phản ứng và bảo tồn các tế bào beta sản xuất insulin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 1 năm 2024
|
|
Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn hiện đang được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên cisplatin. Tuy nhiên, tiêu chí đủ điều kiện cho liệu pháp này khá nghiêm ngặt và hiệu quả của nó trong việc kiểm soát bệnh còn hạn chế. Ngoài ra, phương pháp điều trị bậc hai sử dụng thuốc ức chế PD-1 và PD-L1 đã được chứng minh là không hiệu quả. Do đó, nhu cầu cấp thiết phải có những can thiệp mới. Khoảng 1/5 số bệnh nhân này có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGFR), một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của chất ức chế FGFR có tên Erdafitinib trong việc giải quyết ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong bối cảnh mối lo ngại ngày càng tăng xung quanh tình trạng kháng kháng sinh, các cuộc thảo luận liên quan đến việc sử dụng các phác đồ kháng sinh ngắn hạn thay vì các phác đồ dài hạn đã được tiến hành nhằm giảm áp lực chọn lọc quá mức đối với các kiểu hình kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của liệu pháp ngắn hạn đối với bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ em được công bố kết quả trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong giai đoạn thai kì, nhiễm SARS-CoV-2 gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Do đó, việc ưu tiên tiêm chủng cho nhóm này là rất quan trọng. Mặc dù các nghiên cứu quan sát trước đây đã chứng minh tính an toàn của vắc xin đối với thai nhi nhưng chúng vẫn có những hạn chế về phạm vi kết quả được kiểm tra. Một bài viết nghiên cứu gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về tác động của vắc xin mRNA COVID-19 đối với sức khỏe trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 1 năm 2024
|
|
Đối với những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) không có đột biến với EGFR và ALK, liệu pháp tiêu chuẩn hiện nay là sự kết hợp giữa pembrolizumab với thuốc gốc bạch kim và pemeterxed. Tuy nhiên, tác dụng của nó đối với các trường hợp NSCLC có đột biến ở RET kinase ít được biết đến. Selpercatinib là một chất ức chế RET kinase có tính chọn lọc cao, do đó một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 1 năm 2024
|
|
Ung thư tuyến giáp tủy gây ra bởi sự phát triển tế bào mất kiểm soát liên quan đến đột biến gen RET. Căn bệnh này hiện đang được điều trị bằng Vandetanib hoặc Cabozantinib. Hai tác nhân nêu trên có thể bám vào và làm ngưng hoạt động của RET kinase; tuy nhiên, các bài báo cáo đã phát hiện rằng các tác nhân này gây ra nhiều tác dụng phụ và tình trạng kháng thuốc. Do đó, các nghiên cứu đã được tiến hành để tìm ra phương pháp điều trị tốt hơn. Một bài báo đăng trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả của Selpercatinib - một chất ức chế RET kinase có tính chọn lọc cao, trong điều trị ung thư tuyến giáp tuỷ.
|