|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 29 tháng 9 năm 2023
|
|
Bệnh béo phì là căn bệnh có nguy cơ cao và là tiền thân của một số bệnh liên quan đến hệ tim mạch và tuần hoàn. Chất chủ vận thụ thể nonpeptide glucagonlike peptide-1 (GLP-1) orforglipron là một phác đồ điều trị mới cho bệnh nhân béo phì. Tuy nhiên, hiệu quả và độ an toàn của nó vẫn chưa được chứng minh một cách rõ ràng. Vì vậy, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra tính hiệu quả và an toàn của orforgliron trong việc giảm cân ở người lớn mắc bệnh béo phì.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 27 tháng 9 năm 2023
|
|
Việc sử dụng và nghiện cần sa có liên quan đến việc tăng nguy cơ rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, sự liên kết này chưa được giải thích một cách rõ ràng về mặt lý thuyết. Một nghiên cứu được thực hiện ở Đan Mạch nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa chứng rối loạn sử dụng cần sa với chứng trầm cảm và rối loạn lưỡng cực
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 25 tháng 9 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã quan sát thấy trầm cảm và suy giảm nhận thức là di chứng của mắc bệnh COVID-19; tuy nhiên, cơ chế chính xác đằng sau sự liên kết này vẫn chưa được xác định rõ ràng. Vì vậy, một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra tác động của việc nhiễm SARS-CoV-2 lên não, đặc biệt là các vùng trên não bộ có thể liên quan đến rối loạn tâm trạng và khả năng tâm thần.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 22 tháng 9 năm 2023
|
|
Pitavastatin được sử dụng để giảm lượng cholesterol và triglycerides trong máu. Vì thế, thuốc có ảnh hưởng tích cực lên sức khỏe tim mạch bằng việc gia tăng cholesterol HDL. Các bệnh nhân bị nhiễm HIV có khả năng bị các hội chứng tim mạch cao hơn thường, nhưng quá trình tương tác giữa 2 yếu tố. Vì thế một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả của pitavastatin trong việc ngăn ngừa các hội chứng tim mạch ở các bệnh nhân HIV dương tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 20 tháng 9 năm 2023
|
|
Sarcoma phần mềm phế nang (ASPS) là một loại sarcoma mô mềm hiếm gặp có tỷ lệ sống sót sau 5 năm từ 20% đến 46%. Vì không có liệu pháp nào được phê duyệt cho ASPS nên một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra khả năng sử dụng Atezolizumab, một chất ức chế điểm kiểm tra miễn dịch ngăn chặn phối tử tử vong được lập trình 1. Do kết quả đầy hứa hẹn của nó, Atezolizumab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm phê duyệt là điều trị ASPS.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 18 tháng 9 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng 12% trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và 4% trường hợp ung thư đại trực tràng có đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin thứ 12 của protein KRAS. Những trường hợp ung thư này thường được điều trị bằng các chất chống khối u như Sotorasib và Adagrasib; tuy nhiên, hiệu quả của chúng là dưới mức tối ưu. Vì vậy, cần có chất ức chế KRAS G12C mạnh hơn. Gần đây, một nghiên cứu đã công bố những phát hiện của họ về tính hiệu quả và an toàn của Divarasib trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 15 tháng 9 năm 2023
|
|
Các tế bào truyền dẫn thần kinh cảm nhận tính đau bằng cách sử dụng các cổng dẫn điện Natri V1.8. Các nghiên cứu trước sử đã tìm thấy rằng hợp chất VX-548 có khả năng ức chế các cổng Natri V1.8 và có khả năng giảm đau ở các nghiên cứu ở chuột. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả và an toàn của VX-548 dạng uống trong việc giúp giảm đau ở các bệnh nhân mới phẫu thuật.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 13 tháng 9 năm 2023
|
|
Mặc dù đã có nhiều liệu pháp được phê duyệt để điều trị bệnh Alzheimer nhưng vẫn chưa có nhiều tiến bộ trong việc nghiên cứu phương pháp phòng ngừa tối ưu. Chế độ ăn nhiều chất béo ở phương Tây có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh mãn tính. Và chế độ ăn Địa Trung Hải đã được chứng minh là mang lại lợi ích cho sức khỏe. Vì vậy, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra tác động của việc thay đổi chế độ ăn uống đối với nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 11 tháng 9 năm 2023
|
|
Các số liệu thống kê cho thấy rằng ở người lớn, phần lớn các ca bệnh khối u não là u thần kinh đệm và gần như tất cả chúng đều có đột biến gen isocitrate dehydrogenase (IDH). Những gen IDH bị đột biến này dẫn đến sự tích tụ 2-hydroxyglutarate có thể ngăn cản quá trình hydroxymethyl hóa DNA và biểu hiện của gen trong mô u thần kinh đệm. Vorasidenib là một phân tử có thể vượt qua hàng rào máu não và ức chế phiên bản đột biến của IDH; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng của nó đối với các mô khối u thần kinh đệm ác tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 8 tháng 9 năm 2023
|
|
Retatrutide là một dược phẩm mới được sản xuất bởi công ty dược Eli Lilly. Công dụng của nó có thể hoạt động như một chất chủ vận với peptide 1 giống glucagon và polypeptide insulinotropic phụ thuộc glucose. Do đó, loại dược phẩm này có thể cạnh tranh với các phân tử này để giành được thụ thể và ngắt quãng đường truyền tín hiệu dẫn đến việc lưu trữ năng lượng và tích tụ chất béo. Thông tin về hiệu quả và độ an toàn của Retatrutide gần đây đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 6 tháng 9 năm 2023
|
|
Kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường bằng tiêm insulin hằng ngày được biết đến như một phác đồ điều trị phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, không ít số lượng bệnh nhân quên tiêm insulin và dẫn đến nguy hiểm tính mạng. Vì thế, độ hiệu quả của việc tiêm insulin glargine U100 hàng ngày có thể bị giảm xuống. Để ngăn ngừa tình trạng này, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tính khả thi của việc tiêm insulin icodec mỗi tuần một lần trong việc kiểm soát lượng đường trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 4 tháng 9 năm 2023
|
|
Protein transthyretin được dùng để vận chuyển thyroxine và retinol tới gan qua đường máu và dịch não tủy. Nhưng, khi protein bị lỗi, transthyretin có thể bị ứ ở tế bào cơ tim và dẫn đến đông cứng. Khi lượng transthyretin gia tăng, bệnh amyloidosis có thể giảm khả năng hoạt động tâm trương và dẫn đến rối loạn nhịp tim và ảnh hưởng đến chức năng tâm thu. Hiện tại, Tafamidis là loại thuốc duy nhất được cho phép điều trị transthyretin amyloidosis. Tafamidis có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng nhưng không giúp ngăn bệnh. Một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra khả năng điều trị transthyretin amyloidosis của loại thuốc mới mang tên NI006.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 8 năm 2023
|
|
Angiotensinogen là một hợp chất quan trọng trong quá trình gây bệnh cao huyết áp bởi vì nó có thể được chuyển hóa thành angiotensin. Zilebesiran là một dược phẩm mới có khả năng bám vào thụ thể asialoglycoprotein và ức chế quá trình hình thành angiotensinogen trong gan. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược phẩm Alnylam đã điều tra sự hiệu quả và tính an toàn của Zilebesiran trong việc chữa trị bệnh cao huyết áp.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 8 năm 2023
|
|
Tenofovir alafenamide (TAF) được biết đến như một tiền chất mới của tenofovir được phát triển để điều trị cho bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mãn tính (HBV) với liều thấp hơn tenofovir disoproxil fumarate (TDF). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng TAF được chuyển đến tế bào gan hiệu quả hơn. Tuy nhiên, mức độ cải thiện tính an toàn trên thận và xương của TAF và TDF vẫn chưa được xác định rõ ràng. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh độ hiệu quả và an toàn của tenofovir alafenamide (TAF) với tenofovir disoproxil fumarate (TDF) trong điều trị nhiễm viêm gan B mãn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 8 năm 2023
|
|
Nhiều nghiên cứu trong lịch sử cho thấy IgG kháng polysaccharide (CPS) đặc hiệu huyết thanh ở trẻ sơ sinh có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh liên cầu khuẩn nhóm B. Vắc xin liên hợp glycoconjugate 197 CPS hóa trị sáu (GBS6) đang được phát triển như một loại vắc-xin dành cho phụ nữ đang mang thai để ngăn ngừa bệnh liên cầu khuẩn nhóm B ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả của vắc xin GBS6 trong việc ngăn ngừa mắc bệnh Streptococcus nhóm B ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 21 tháng 8 năm 2023
|
|
Chứng rối loạn phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bị gây ra bởi tình trạng viêm loại 2 được điều phối bởi các cytokine như IL-4, IL-5 và IL-13. Dupilumab là một kháng thể đơn dòng có thể liên kết với thụ thể chung giữa IL-4 và IL-13. Hiện nay, có rất nhiều giả thuyết tin rằng việc ngừng sử dụng dupilumab có thể làm giảm cường độ viêm và mức độ nghiêm trọng của COPD. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá giả thuyết trên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 16 tháng 8 năm 2023
|
|
Hóa trị liều cao và ghép tế bào gốc tự thân (HDT-ASCT) được biết đến là các phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư hạch tế bào B lớn. Tuy nhiên, chỉ một nửa số bệnh nhân đủ điều kiện để áp dụng phương pháp điều trị này. Đối với những người được điều trị bằng phương pháp HDT-ASCT, tỷ lệ khỏi bệnh chỉ là 20%. Đối với những bệnh nhân không thể điều trị bằng phương pháp này, thời gian sống sót trung bình chỉ là 4,4 tháng. Axicabtagene ciloleucel được tìm thấy như một lựa chọn trị liệu mới mang lại kết quả đầy hứa hẹn trong các cuộc thử nghiệm ban đầu. Vì vậy một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sử dụng nó để điều trị ung thư hạch tế bào B lớn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 14 tháng 8 năm 2023
|
|
Sau khi xảy ra tai nạn chấn thương, mất máu quá nhiều có thể dẫn đến tổn thương mô và sốc giảm thể tích máu. Nếu sự mất máu này được ngăn chặn trước khi nhập viện, nó có thể làm giảm nguy cơ tử vong. Axit tranexamic là một chất chống tiêu sợi huyết đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát xuất huyết. Một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng của việc sử dụng axit tranexamic trước khi nhập viện trong việc ngăn ngừa tử vong sau tai nạn chấn thương.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 9 tháng 8 năm 2023
|
|
Phác đồ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bao gồm phẫu thuật cắt bỏ khối u và hóa trị bổ trợ. Tuy nhiên, phương pháp hóa trị dài hạn này có hiệu quả thấp trong việc ngăn ngừa tái phát và tử vong, đặc biệt ở những bệnh nhân bị đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Osimertinib có khả năng ức chế cả EGFR bình thường hoặc đột biến. AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Osimertinib và kết quả đã được công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 7 tháng 8 năm 2023
|
|
Việc sử dụng các hoạt chất ức chế BTK như ibrutinib và zanubrutinib là một trong những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính. Tuy nhiên, khả năng kháng lại các hoạt chất này có thể xuất hiện dưới dạng đột biến C481. Vì vậy, venetoclax có thể được sử dụng như liệu trình thay thế trong các trường hợp này. Tuy nhiên, việc sử dụng venetoclax lại đòi hỏi sự thận trọng trong việc gia tăng liều lượng trong môi trường điều trị nội trú. Gần đây, Pirtobrutinib, một chất ức chế BTK mới, đã được đánh giá để xem xét: liệu hoạt chất có thể sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu mãn tính, và kết quả đã được công bố trong bài nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 2 tháng 8 năm 2023
|
|
Việc xâm nhập và lây nhiễm tế bào gan đòi hỏi virus viêm gan D (HDV) phải tận dụng được kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBsAg). Từ đó, nguy cơ mắc cùng lúc virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan D tăng cao, và gia tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Mặc dù, đã có nhiều cách kiềm chế sự phát triển của virus viêm gan B, hiện tại vẫn chưa có phương pháp điều trị virus viêm gan D nào được chấp thuận. Ngoài HBsAg, virus viêm gan D còn sử dụng peptit đồng vận chuyển sodium taurocholate (NTCP) để xâm nhập vào tế bào gan. Trong bối cảnh này, Bulevirtide - một chất ức chế NTCP - đã được thử nghiệm để đánh giá tiềm năng lâm sàng trong việc điều trị nhiễm virus viêm gan D.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 31 tháng 7 năm 2023
|
|
Do hiệu ứng gây viêm của IL-23 trong viêm loét đại tràng, các dược phẩm có tính ức chế IL-23 đã được thử nghiệm và sử dụng tại Hoa Kỳ. IL-23 bao gồm hai đơn vị riêng biệt: p40 và p19, tồn tại duy nhất cho IL-23. Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 trước đó đã khẳng định tiềm năng của Mirikizumab - một loại kháng thể nhắm vào đơn vị p19 của IL-23. Do đó, công ty dược phẩm Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 để đánh giá độ hiệu quả và an toàn của Mirikizumab trong điều trị viêm đại tràng loét.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 26 tháng 7 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh được việc sử dụng thuốc chống đông máu giảm khả năng bị đột quỵ cục bộ và bệnh tổn ngoại vi hệ thống ở những bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu nhất quán về thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc chống đông. Việc sử dụng muộn có thể làm tăng nguy cơ bị đột quỵ cục bộ; mặc khác, việc sử dụng quá sớm lại làm tăng nguy cơ xuất huyết. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh hiệu quả và tính an toàn về thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc chống đông.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 24 tháng 7 năm 2023
|
|
Vào tháng 9 năm 2022, ca nhiễm virus monkeypox đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam. Trên toàn thế giới, số lượng ca đã vượt 100,000, vì thế vaccine phòng bệnh cần được nghiên cứu. Vào năm 2019, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã phê chuẩn việc sử dụng vaccine JYNNEOS. Vì thế Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ đã tài trợ một nghiên cứu điều tra sự hiệu quả của vaccine trong việc ngăn ngừa nhiễm monkeypox.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 19 tháng 7 năm 2023
|
|
Hiện nay, liệu pháp sốc điện co giật (ECT) đã trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho đa số các chứng rối loạn trầm cảm nghiêm trọng. Tuy hiệu quả của phương pháp đã được chứng minh, việc áp dụng ECT vẫn gặp nhiều hạn chế do các yếu tố như sự kỳ thị đến từ xã hội, cần sử dụng thuốc gây mê và mang nguy cơ cao gây tổn hại đến nhận thức. Trong những thập kỷ gần đây, ketamine cũng đã được để điều trị trầm cảm cho bệnh nhân không có triệu chứng rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự đối chứng rõ ràng giữa 2 phương pháp điều trị; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh hiệu quả trong việc điều trị chứng trầm cảm nghiêm trọng (không kèm triệu chứng rối loạn tâm thần) giữa ECT và ketamine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 17 tháng 7 năm 2023
|
|
Trong những thập kỷ qua, tỷ lệ tụ máu dưới màng cứng mạn tính ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia phát triển. Điều này có thể được giải thích là do sự già hóa của dân số và việc sử dụng thuốc chống đông máu để điều trị các bệnh tim mạch. Cần mở hộp sọ lỗ khoan để dẫn lưu khối máu tụ; đây là một thủ tục hiệu quả nhưng có nguy cơ tử vong cao hơn. Người ta đưa ra giả thuyết rằng phản ứng viêm khiến tình trạng của khối máu đông trầm trọng hơn bằng cách tích tụ chất lỏng và tăng tỷ lệ đông máu. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra khả năng sử dụng dexamethasone trong điều trị tụ máu dưới màng cứng mãn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 7 năm 2023
|
|
Tiểu đường thai kỳ là một trong những biến chứng sản khoa thường gặp và có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi. Rủi ro tiền sản giật ở người mẹ bị gia tăng và dẫn đến các biến chứng trong lúc sinh. Thêm vào đó, kích thước của thai nhi có thể lớn hơn bình thường và rủi ro chấn thương hoặc trật khớp vai có thể gia tăng. Hiện tại, các bà mẹ được khuyến cáo kiểm tra và điều trị tiểu đường thai kỳ vào tuần thai thứ 24. Biện pháp này đã có tính hiệu quả cao trong việc giúp khắc phục các rủi ro trong lúc mang thai. Vì thế, một nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ Úc và New Zealand đang được thực hiện để điều tra liệu biện pháp ngăn ngừa có thể áp dụng sớm hơn, vào tuần thứ 20, để gia tăng lợi ích lâm sàng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 10 tháng 7 năm 2023
|
|
Liệu trình hóa trị kết hợp giữa carboplatin và paclitaxel là phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư nội mạc tử cung, tuy nhiên, kết quả lâu dài của chúng tương đối kém. Dostarlimab là một kháng thể đơn dòng có thể bám vào và trung hòa các khối u nội mạc có nhiều các thụ thể PD-1. Để am hiểu sâu hơn về phương pháp điều trị ung thư, công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá độ hiệu quả và an toàn của dostarlimab như một liệu pháp miễn dịch chống lại bệnh ung thư nội mạc tử cung.
|
|
Được tóm tắt và phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM. |
Đăng vào ngày 5 tháng 7 năm 2023
|
|
Trong số sáu chủng (A, B, C, W, X, Y) của vi khuẩn viêm màng não mô cầu, chủng A là tác nhân chính trong đa số các ca nhiễm. Tuy nhiên, nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng của vaccine MenACWY-D, chủng A đã được kiểm soát hiệu quả trong cộng đồng. Gần đây, tỷ lệ nhiễm viêm màng não mô cầu đang tăng cao trở lại do sự xuất hiện của các biến chủng khác. Trong đó, đặc biệt nhất là biến chủng X vì loại chủng này chưa được bổ sung vào vaccine MenACWY-D. Do đó, một nghiên cứu được tiến hành để điều tra tính hiệu quả và an toàn của vaccine mới NmCV-5 (vaccine tiểu đơn vị liên hợp viêm màng não mô cầu năm chủng ACWYX).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2023
|
|
Nhiều tế bào miễn dịch sử dụng con đường JAK-STAT để gây ra phản ứng tiền viêm; do đó, việc ức chế các protein này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh Crohn. Upadacitinib có khả năng gây ức chế protein Jak. Hơn nữa, Upadacitinib đang được sử dụng để điều trị viêm da dị ứng và viêm khớp dạng thấp. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của upadacitinib trong điều trị bệnh Crohn.
|