|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2026
|
|
Triglyceride cao trong máu gia tăng nguy cơ viêm tụy cấp. Do đó, các liệu pháp làm giảm nồng độ triglyceride trong huyết thanh, chẳng hạn như fibrate, thường được sử dụng để giảm rủi ro biến chứng ở tụy. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả và độ an toàn của olezarsen, một thuốc ức chế apolipoprotein C-III, trong việc làm giảm nồng độ triglyceride và ngăn ngừa viêm tụy.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2026
|
|
Viêm gan siêu vi D là một bệnh mãn tính nghiêm trọng có thể làm tăng đáng kể nguy cơ xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Nhiễm virus này có thể được kiểm soát bằng bulevirtide. Tuy nhiên, việc sử dụng bulevirtide rất khó khăn do cần phải tiêm thuốc dưới da hàng ngày. Thêm vào đó, bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh cao nếu ngừng điều trị. Vì thế một liệu pháp điều trị mới rất cần thiết; một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá việc sử dụng tobevibart kết hợp với elebsiran để điều trị viêm gan siêu vi D.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 2 tháng 3 năm 2026
|
|
Sau quá trình thử nghiệm rộng rãi, các chuyên gia đã chứng minh rằng nivolumab có độ hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh ung thư hắc tố. Khi so sánh với các liệu pháp miễn dịch khác, nivolumab cũng đã được chứng minh có tính hiệu quả cao hơn. Gần đây, một nghiên cứu theo dõi dài hạn về kết quả lâm sàng của nivolumab đối với bệnh ung thư hắc tố đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 2 năm 2026
|
|
Các khối u ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ biểu hiện mức độ cao thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Vì các thụ thể này rất quan trọng đối với sự phát triển của khối u, nên việc ức chế mục tiêu này bằng thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR (EGFR-TKI) là một chiến lược hiệu quả để điều trị ung thư. Tuy nhiên, đột biến ở thụ thể EGFR có thể dẫn đến kháng thuốc. Trong những trường hợp này, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng sacituzumab tirumotecan để điều trị thay thế.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 11 tháng 2 năm 2026
|
|
Nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) ngày càng phổ biến trong những năm gần đây sau đại dịch COVID-19. Đối với bệnh nhân cao tuổi, nhiễm RSV có thể dẫn đến tử vong. Hiện đã có vắc-xin phòng ngừa nhiễm RSV, và vắc-xin này có độ hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa các bệnh lý đường hô hấp dưới liên quan đến RSV. Để tìm hiểu thêm về lợi ích của vắc-xin này, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra khả năng ngăn ngừa nhập viện ở người cao tuổi.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 9 tháng 2 năm 2026
|
|
Bệnh đa xơ cứng là một bệnh tự miễn dịch với do sự tấn công của hệ miễn dịch vào lớp vỏ myelin bao quanh các tế bào thần kinh. Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng kết quả bất lợi trong thai kỳ như sinh non, rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, v.v., có thể làm thay đổi sự phát triển của hệ miễn dịch. Theo logic này, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu ảnh hưởng của các bất thường trong thai kỳ đến nguy cơ phát triển bệnh đa xơ cứng sau này trong cuộc sống.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 2 năm 2026
|
|
Nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) gia tăng có khả năng thúc đẩy sự hình thành mảng xơ vữa dọc theo nội mô mạch máu, dẫn đến hẹp lòng mạch và suy giảm lượng máu lưu thông. Quá trình này làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các biến cố tim mạch do xơ vữa động mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ thiếu máu cục bộ. Với sự tài trợ của Amgen, một nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của evolocumab trong việc ngăn ngừa các biến cố tim mạch nghiêm trọng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 2 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã phát hiện ra rằng 1 trong 10 trẻ em và thanh thiếu niên bị chứng đau nửa đầu theo cơn. Rối loạn này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe của trẻ em. Phương pháp điều trị hiện tại cho trẻ em có hiệu quả hạn chế nhưng có tác dụng phụ nghiêm trọng; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành, với sự tài trợ của công ty Teva Pharmaceuticals, để đánh giá việc sử dụng fremanezumab, một loại thuốc đã được phê duyệt cho người lớn, để điều trị chứng đau nửa đầu ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 2 tháng 2 năm 2026
|
|
Osimertinib là thuốc ức chế tyrosine kinase thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) thế hệ thứ ba. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng osimertinib có hiệu quả hơn trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ so với các thuốc ức chế EGFR thế hệ trước và hóa trị liệu dựa trên platin. Ngoài ra, bằng chứng gần đây cho thấy việc kết hợp hóa trị liệu platin với thuốc ức chế EGFR thế hệ thứ hai gefitinib dẫn đến kết quả lâm sàng tốt hơn so với chỉ dùng gefitinib đơn độc. Dựa trên những phát hiện này, một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được tiến hành để đánh giá xem việc bổ sung hóa trị liệu dựa trên platin vào osimertinib có thể cải thiện kết quả điều trị hơn nữa hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 1 năm 2026
|
|
Điều trị viêm màng não do lao có rất nhiều khó khăn do phác đồ điều trị phức tạp, tỷ lệ kháng thuốc ngày càng tăng, và thuốc không thể thâm nhập vào dịch não tủy. Điều này dẫn đến kết quả điều trị kém hiệu quả và tỷ lệ tử vong cao ở bệnh nhân bị bội nhiễm lao và HIV. Một nghiên cứu được tài trợ bởi Hội Đồng Nghiên Cứu Y Khoa Vương Quốc Anh đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng phác đồ rifampin liều cao để điều trị viêm màng não do lao.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 1 năm 2026
|
|
Nhiễm virus HPV là một trong những nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung phổ biến nhất. Việc tiêm phòng có thể ngăn ngừa nhiễm virus và giảm nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng trên toàn thế giới còn thấp; do đó, số lượng các ca ung thư cổ tử cung còn rất cao, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Với nguồn tài trợ từ Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá khả năng phòng ngừa ung thư của liệu trình tiêm vắc-xin HPV một liều.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 1 năm 2026
|
|
Việc sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 đã trở nên rất phổ biến như một phương pháp để kiểm soát cân nặng, quản lý bệnh tiểu đường và ngăn ngừa các biến chứng sức khỏe khác liên quan đến béo phì. Một số biến chứng này là các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Với sự tài trợ của Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành nhằm so sánh tirzepatide với dulaglutide trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 1 năm 2026
|
|
Phẫu thuật cắt bỏ bàng quang là phương pháp điều trị đầu tay cho bệnh nhân bị chẩn đoán ung thư bàng quang xâm lấn cơ; tuy nhiên, bệnh vẫn tái phát ở 50% trường hợp. Hiện tại có các phương pháp hóa trị, nhưng nếu điều trị xảy ra một cách không cần thiết, nguy cơ các tác dụng phụ xảy ra sẽ gia tăng. Do đó, việc tìm ra một dấu ấn sinh học để chứng minh sự tồn tại của các khối u còn sót lại là rất quan trọng. DNA của khối u lưu hành trong máu đã được chứng minh là một chỉ số hữu ích cho việc dự đoán sự tái phát ung thư đại tràng. Vì vậy một nghiên cứu do Roche tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng atezolizumab trong điều trị ung thư bàng quang ở bệnh nhân có DNA khối u lưu hành trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 1 năm 2026
|
|
Nhằm trốn tránh hệ thống miễn dịch, nhiều tế bào khối u biểu hiện PD-1 trên bề mặt làm giảm hoạt động của các tế bào miễn dịch đã nhắm mục tiêu tiêu diệt chúng. Can thiệp vào phương pháp né tránh miễn dịch này bằng cách nhắm mục tiêu và ức chế PD-1 đã được chứng minh là thành công. Công ty dược phẩm RemeGen đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá lợi ích bổ sung của việc thêm toripalimab - một liệu pháp miễn dịch kháng PD-1 - vào liệu pháp hiện tại điều trị ung thư biểu mô đường tiết niệu, disitamab vedotin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 1 năm 2026
|
|
Mỗi mùa cúm, các nhóm dân số dễ bị tổn thương chẳng hạn như người cao tuổi (những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất). Đối với nhóm người lớn tuổi này, hiệu quả của vắc-xin trong việc ngăn ngừa nhập viện vốn đã thấp và không đồng đều và có thể còn kém hơn so với dân số trung bình. Với sự tài trợ của Sanofi, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra hiệu quả của vắc-xin cúm liều cao hơn; nghiên cứu này gần đây đã được công bố kết quả trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 1 năm 2026
|
|
Trong giai đoạn tiềm ẩn sau khi nhiễm virus herpes simplex (HSV-1 và HSV-2) ban đầu, virus có thể xâm nhập vào hạch thần kinh sinh ba và di chuyển đến não thông qua vận chuyển sợi trục ngược chiều. Trong nghiên cứu trên động vật, HSV có thể lây nhiễm vào tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm, gây tích tụ protein amyloid β và phosphoryl hóa protein tau - một dấu hiệu đặc trưng của bệnh Alzheimer. Hơn nữa, một nghiên cứu cho thấy 90% bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer sau khi chết có DNA HSV-1 có thể phát hiện được trong các mảng amyloid. Với nguồn tài trợ từ Viện Lão hóa Quốc gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra hiệu quả của valacyclovir trong điều trị bệnh Alzheimer có triệu chứng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 1 năm 2026
|
|
Tại nhiều quốc gia, liệu pháp aspirin dài hạn thường được khuyến cáo cho bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Các hướng dẫn gần đây hơn đã đề xuất bổ sung thuốc ức chế P2Y12 vào aspirin, mặc dù bằng chứng hỗ trợ phương pháp này vẫn còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu được tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Thụy Điển đã đánh giá lợi ích và rủi ro tim mạch của việc kết hợp aspirin với ticagrelor ở bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 1 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng glucocorticoid có thể giúp giảm viêm ở bệnh nhân mắc viêm phổi cộng đồng. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này được thực hiện ở những nơi có nguồn lực dồi dào và loại trừ các bệnh mãn tính thường gặp ở những nơi có nguồn lực hạn chế như HIV và lao. Nhờ vào nguồn tài trợ từ Wellcome Trust, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng glucocorticoid trong điều trị viêm phổi cộng đồng ở một môi trường có nguồn lực hạn chế.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 1 năm 2026
|
|
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những người có nồng độ axit béo không bão hòa đa n-3 trong máu cao có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn. Nhiều bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo do bệnh thận giai đoạn cuối cũng mắc các bệnh tim mạch. Thêm vào đó, những bệnh nhân này có mức axit béo không bão hòa đa n-3 thấp hơn bình thường. Với sự tài trợ của Quỹ Tim mạch và Đột quỵ Canada, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng tim mạch của việc bổ sung dầu cá ở những bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 1 năm 2026
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng thụ thể sphingosine-1-phosphate (S1P) rất cần thiết cho sự di chuyển và chức năng của các tế bào miễn dịch. Hiện đã có những nỗ lực thành công trong việc điều chỉnh mục tiêu này để kiểm soát các bệnh tự miễn dịch như bệnh đa xơ cứng và viêm loét đại tràng. Với nguồn tài trợ từ Amgen, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng cenerimod để điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 1 năm 2026
|
|
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn dịch trong đó tế bào B tạo ra kháng thể nhắm vào protein nội sinh của cơ thể. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng anifrolumab có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh và tình trạng viêm bằng cách ngăn chặn con đường truyền tín hiệu interferon loại I. Gần đây, một nghiên cứu dài hạn về hiệu quả của anifrolumab được tài trợ bởi AstraZeneca và đã được công bố kết quả trên tạp chí Lancet.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 12 năm 2025
|
|
Bệnh nhân có tiền sử bệnh vảy nến da có nguy cơ mắc viêm khớp vảy nến cao hơn trong tương lai. Phác đồ điều trị tiêu chuẩn hiện nay là sự kết hợp giữa corticosteroid, methotrexate và thuốc sinh học ức chế con đường sưng viêm. Do chi phí cao của các thuốc sinh học, chúng thường không có sẵn ở các nước đang phát triển. Với sự tài trợ của Janssen, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra hiệu quả lâm sàng của golimumab trong điều trị viêm khớp vảy nến.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 12 năm 2025
|
|
Khi chế độ ăn uống và lối sống của người Việt Nam thay đổi, tỷ lệ béo phì đã tăng mạnh. Đồng thời, việc chẩn đoán được cải thiện và điều kiện xã hội thay đổi đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm. Hai tình trạng này thường xảy ra cùng nhau, làm trầm trọng thêm gánh nặng sức khỏe mãn tính và tăng nguy cơ tử vong. Với sự hỗ trợ từ Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Đức, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra xem simvastatin có thể giúp kiểm soát cả trầm cảm và béo phì hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 12 năm 2025
|
|
Mặc dù nhiều phương pháp điều trị đã được phê duyệt cho chứng rối loạn trầm cảm nặng, nhưng khoảng 35% bệnh nhân không đáp ứng với ít nhất hai loại thuốc chống trầm cảm. Những bệnh nhân này được phân loại là mắc chứng trầm cảm kháng trị, một tình trạng liên quan đến gánh nặng bệnh tật lớn hơn và nguy cơ tự tử tăng cao đáng kể. Nhằm tìm kiếm các liệu pháp thay thế, Janssen đã tài trợ một nghiên cứu đánh giá esketamine cho nhóm bệnh nhân khó điều trị này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 12 năm 2025
|
|
Chứng mất ngủ ngày càng phổ biến, tuy nhiên, các lựa chọn điều trị vẫn còn hạn chế. Hiện nay, chỉ có hai nhóm thuốc chính được phê duyệt: benzodiazepine và thuốc an thần không thuộc nhóm benzodiazepine như zolpidem. Những loại thuốc này có hiệu quả đối với một số bệnh nhân nhưng thường đi kèm với những nhược điểm, bao gồm buồn ngủ ban ngày, phụ thuộc thuốc, nhờn thuốc và nguy cơ suy giảm nhận thức cao hơn ở người lớn tuổi. Để tìm kiếm những lựa chọn thay thế tốt hơn, Johnson & Johnson đã tài trợ một nghiên cứu đánh giá việc sử dụng seltorexant để điều trị chứng mất ngủ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 12 năm 2025
|
|
Hiện nay có hai loại vắc-xin được sử dụng để phòng ngừa cúm: vắc-xin cúm bất hoạt dạng tiêm và vắc-xin cúm sống giảm độc lực. Dựa trên kinh nghiệm thu được từ việc phát triển vắc-xin mRNA COVID-19, Pfizer đã áp dụng công nghệ vắc-xin mRNA để tạo ra một loại vắc-xin cúm mới. Một nghiên cứu đánh giá tính an toàn và hiệu quả của nó gần đây đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 12 năm 2025
|
|
Thuốc chẹn beta từ lâu đã được kê đơn cho bệnh nhân nhằm ngăn ngừa nhồi máu cơ tim tái phát, chủ yếu là do đặc tính chống loạn nhịp tim của chúng. Tuy nhiên, phần lớn các bằng chứng ủng hộ phương pháp này đến từ các nghiên cứu được thực hiện hơn 40 năm trước - trước khi liệu pháp tái tưới máu động mạch vành hiện đại được sử dụng rộng rãi. Lợi ích của chúng ở những bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái bảo tồn hoặc giảm nhẹ vẫn chưa được làm sáng tỏ. Vì vậy, nhằm giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do chính phủ tài trợ tại Na Uy đã đánh giá hiệu quả của thuốc chẹn beta trong bối cảnh lâm sàng hiện đại.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 12 năm 2025
|
|
Bệnh nhân có khối u vú thiếu biểu hiện của ba thụ thể hormone chính và thường có kết quả điều trị kém hơn những bệnh nhân khác. Bệnh ung thư vú bộ ba âm tính này có tỷ lệ tử vong trong 5 năm khoảng 85%. Mặc dù việc ngăn chặn con đường trốn tránh miễn dịch PD-1 có thể hiệu quả, nhưng các liệu pháp miễn dịch này mang lại ít lợi ích khi khối u không biểu hiện hoặc không điều hòa giảm PD-1. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Gilead tài trợ đã đánh giá sacituzumab govitecan như một lựa chọn điều trị cho ung thư vú bộ ba âm tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 12 năm 2025
|
|
Việc kiểm soát cơn đau ở bệnh nhân gãy xương sườn do chấn thương vẫn còn nhiều hạn chế. Các lựa chọn thông thường như acetaminophen, NSAID và thuốc giãn cơ thường không mang hiệu quả cao, trong khi các thuốc mạnh hơn như opioid lại có nguy cơ gây nghiện và suy hô hấp. Nhằm tìm hiểu các chiến lược thay thế, các nhà nghiên cứu tại Đại học California đã tiến hành một nghiên cứu đánh giá dexmedetomidine trong việc kiểm soát cơn đau ở nhóm bệnh nhân này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 12 năm 2025
|
|
Thừa cân và béo phì làm tăng đáng kể nguy cơ mắc nhiều bệnh mãn tính. Các chất chủ vận thụ thể GLP-1 đã được chứng minh là cải thiện kiểm soát đường huyết, hỗ trợ giảm cân và giảm nguy cơ tim mạch. Orforglipron - một chất chủ vận GLP-1 đã được sử dụng cho bệnh tiểu đường tuýp 2 và đã được đánh giá trong một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ nhằm tìm hiểu hiệu quả của nó trong việc kiểm soát cân nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 1 tháng 12 năm 2025
|
|
Vảy nến mảng là một tình trạng viêm da do phản ứng miễn dịch quá mức. Các phương pháp điều trị nhắm vào các con đường gây viêm - chẳng hạn như interleukin-12 (IL-12), IL-17, IL-23 và TNFα - mang lại hiệu quả, tuy nhiên, hầu hết là thuốc dạng tiêm. Việc phải tái khám thường xuyên có thể làm giảm sự tuân thủ điều trị, trong khi các phương pháp điều trị bằng đường uống hiện nay thường kém hiệu quả hơn. Nhằm giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Johnson & Johnson tài trợ đã đánh giá thuốc icotrokinra trong việc điều trị vẩy nến mảng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 11 năm 2025
|
|
Những người mắc bệnh tiểu đường phải đối mặt với nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ cao hơn và họ có nhiều khả năng gặp phải các biến cố tái phát. Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc kiểm soát đường huyết đơn thuần - dù bằng insulin hay sulfonylurea - không thể giải thích đầy đủ cho nguy cơ này, điều này cho thấy các cơ chế bổ sung như viêm hoặc kháng insulin có thể góp phần gây tái phát. Với sự hỗ trợ từ chính phủ Trung Quốc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu liraglutide có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ và cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) ở bệnh nhân tiểu đường hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 11 năm 2025
|
|
Các liệu pháp hóa trị nhắm vào đường truyền tín hiệu thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR-TKI) đóng vai trò trung tâm trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Tuy nhiên, ngay cả những loại thuốc thế hệ thứ ba tiên tiến nhất cũng chỉ mang lại lợi ích ở mức độ vừa phải với thời gian sống trung bình khoảng ba năm và tỷ lệ sống sót sau 5 năm dưới 20%. Tình trạng kháng thuốc với các liệu pháp hiện tại vẫn tiếp tục xuất hiện, làm nổi bật nhu cầu về các chiến lược điều trị mới. Nhờ vào sự hỗ trợ từ Janssen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng kết hợp amivantamab và lazertinib trong điều trị NSCLC.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 11 năm 2025
|
|
Những người mắc bệnh tiểu đường phải đối mặt với nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ cao hơn và họ có nhiều khả năng gặp phải các biến cố tái phát. Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc kiểm soát đường huyết đơn thuần - dù bằng insulin hay sulfonylurea - không thể giải thích đầy đủ cho nguy cơ này, điều này cho thấy các cơ chế bổ sung như viêm hoặc kháng insulin có thể góp phần gây tái phát. Với sự hỗ trợ từ chính phủ Trung Quốc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu liraglutide có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ và cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) ở bệnh nhân tiểu đường hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 11 năm 2025
|
|
Sốt thương hàn do Salmonella enterica gây ra có thể được phòng ngừa phần lớn thông qua việc cải thiện hệ thống nước sạch và vệ sinh. Việc tiêm vắc-xin phòng ngừa typhi - tác nhân gây bệnh thương hàn - đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm gánh nặng bệnh tật. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có vắc-xin được cấp phép đối với chủng paratyphi. Với sự hỗ trợ của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Vương quốc Anh, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá CVD 1902, một loại vắc-xin mới được thiết kế để bảo vệ chống lại chủng Salmonella Paratyphi A.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 11 năm 2025
|
|
Tăng áp động mạch phổi (PAH) là tình trạng hẹp các mạch máu phổi làm hạn chế lưu lượng máu đến phổi và làm suy yếu trao đổi khí. Các phương pháp điều trị hiện tại chỉ mang lại lợi ích một phần và không ngăn chặn hoàn toàn sự tiến triển của bệnh, tỷ lệ mắc bệnh hoặc tử vong. Một nghiên cứu gần đây được hỗ trợ bởi Merck đã tìm hiểu tiềm năng của sotatercept như một liệu pháp mới để kiểm soát bệnh PAH.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 11 năm 2025
|
|
Liệu pháp chống đông máu dài hạn thường được sử dụng để ngăn ngừa các biến chứng như huyết khối tái phát ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn tính. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc kết hợp thuốc chống đông máu và thuốc chống tiểu cầu làm tăng nguy cơ chảy máu. Tuy nhiên, nhiều thử nghiệm trong số đó bị hạn chế do thiếu phương pháp làm mù và chỉ bao gồm những bệnh nhân có nguy cơ thấp. Nhằm giải quyết những hạn chế này, một nghiên cứu do Bộ Y tế Pháp và Bayer tài trợ đã tìm hiểu xem việc bổ sung aspirin vào chế độ điều trị chống đông máu có mang lại lợi ích cho những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến cố huyết khối hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 11 năm 2025
|
|
Bệnh nhân giãn phế quản thường bị tăng tiết đờm, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Các hướng dẫn lâm sàng khuyến nghị sử dụng thuốc hoạt hóa đờm và thuốc làm thông đường thở để hỗ trợ việc khạc đờm, nhưng những khuyến nghị này phần lớn dựa trên bằng chứng chất lượng thấp. Nhằm khắc phục vấn đề này, chính phủ Anh đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp tiêu đờm trong việc kiểm soát giãn phế quản.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 11 năm 2025
|
|
Đau cơ cổ thường được điều trị bằng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) và thuốc giãn cơ; tuy nhiên, các liệu pháp này thường chỉ mang lại hiệu quả giảm đau hạn chế và đi kèm với nhiều tác dụng phụ đáng kể. Với mục đích xác định các lựa chọn điều trị thay thế, công ty dược phẩm Laboratorios Silanes đã tài trợ cho một nghiên cứu tìm hiểu lợi ích tiềm năng của việc bổ sung phức hợp vitamin B vào liệu pháp dexketoprofen.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 11 năm 2025
|
|
Bệnh lý rễ thần kinh thắt lưng cấp tính là một tình trạng phổ biến và ảnh hưởng đến khoảng 10% dân số mắc bệnh ít nhất một lần trong đời. Bệnh có thể tự khỏi, nhưng người bệnh có thể bị đau đáng kể và dẫn đến tàn tật. Các phương pháp điều trị xâm lấn hơn như phẫu thuật cắt đĩa đệm hoặc tiêm steroid ngoài màng cứng có thể được sử dụng, nhưng chúng đi kèm với những khó khăn đáng kể. Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ đã tài trợ một nghiên cứu đã được tiến hành để xem xét việc sử dụng steroid đường uống để kiểm soát bệnh lý rễ thần kinh thắt lưng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 11 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện, đặc biệt là nhiễm trùng huyết - nguyên nhân gây ra hàng triệu ca tử vong mỗi năm. Nguy cơ tử vong cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn gram âm kháng nhiều loại kháng sinh. Với sự hỗ trợ của chính phủ Singapore và Úc, một nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của cefiderocol - một loại kháng sinh mới trong điều trị nhiễm khuẩn huyết bệnh viện.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 11 năm 2025
|
|
Việc điều trị bệnh vẩy nến mảng bám ảnh hưởng đến da đầu gặp khó khăn vì sự hiện diện của tóc có thể cản trở việc sử dụng các tác nhân bôi ngoài da dưới dạng thuốc mỡ hoặc kem. Tuy nhiên, các phương pháp điều trị mới hơn như bọt có thể hiệu quả hơn và phù hợp hơn với việc chăm sóc tóc. Với sự tài trợ từ Arcutis Biotherapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng roflumilast dạng bọt để kiểm soát bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 11 năm 2025
|
|
Đối với căn bệnh viêm da dị ứng, triệu chứng viêm và ngứa chủ yếu là do các cytokine IL-4, IL-13 và IL-31 gây ra. Các liệu pháp hiện tại đang nhắm vào các cytokine này hoặc các protein tín hiệu hạ nguồn của chúng, chẳng hạn như nhóm Janus kinase (JAK); Tuy nhiên, hiệu quả của chúng vẫn còn hạn chế và gây ra tác dụng phụ thường gặp. Để giải quyết những thách thức này, Công ty Dược phẩm Jiangsu Hengrui đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của ivarmacitinib - một chất ức chế JAK chọn lọc trong điều trị viêm da dị ứng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 11 năm 2025
|
|
Các thử nghiệm lâm sàng trước đây đã tìm thấy rằng việc sử dụng nicotinamide có thể giúp ngăn ngừa ung thư da; tuy nhiên, những nghiên cứu này bị hạn chế bởi quy mô mẫu nhỏ. Để tìm hiểu hơn về hiệu quả của nicotinamide, một nghiên cứu quy mô lớn do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ đã đánh giá việc sử dụng nicotinamide bôi ngoài da trong phòng ngừa ung thư da.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 31 tháng 10 năm 2025
|
|
Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn do tế bào lympho B gây ra. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh này; tuy nhiên, hiệu quả và độ an toàn của chúng chưa đạt mức tối ưu. Các cytokine như BLyS và APRIL đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của lupus. Với sự tài trợ từ công ty dược RemeGen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng thuốc telitacicept trong việc kiểm soát bệnh lupus.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 29 tháng 10 năm 2025
|
|
Mặc dù đã có những tiến bộ gần đây trong việc kiểm soát sốt rét, căn bệnh này vẫn là một gánh nặng đáng kể, đặc biệt là ở trẻ em sống tại các quốc gia kém phát triển. Các yếu tố như tình trạng kháng thuốc diệt côn trùng và thay đổi thói quen đốt muỗi đã khiến việc lây truyền bệnh sốt rét vẫn tiếp diễn. Với sự tài trợ từ quỹ nghiên cứu Doris Duke, một dự án đã được thực hiện để tìm hiểu việc sử dụng khăn tẩm permethrin để phòng ngừa sốt rét ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 10 năm 2025
|
|
Nồng độ aldosterone cao gia tăng nguy cơ bệnh tăng huyết áp không kiểm soát hoặc kháng trị. Baxdrostat là một chất ức chế tổng hợp aldosterone có nhiều chức năng sinh học và thời gian bán hủy dài 30 giờ. Thuốc có thể làm giảm nồng độ aldosterone, giúp giảm tình trạng giữ natri và nước, nguyên nhân gây tăng huyết áp. Với sự tài trợ từ công ty AstraZeneca, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng baxdrostat trong các trường hợp tăng huyết áp khó điều trị.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 24 tháng 10 năm 2025
|
|
Nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ sơ sinh phải nhập viện, với mức độ nghiêm trọng của bệnh cao nhất ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Các nghiên cứu trước đã phát hiện ra rằng các kháng thể đơn dòng như nirsevimab và palivizumab là một biện pháp phòng ngừa nhiễm RSV ở trẻ sơ sinh hiệu quả. Với sự tài trợ của công ty dược Merck, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng clesrovimab để ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 10 năm 2025
|
|
Apolipoprotein C-III (APOC3) ức chế sự thanh thải triglyceride bằng cách can thiệp vào hoạt động của lipoprotein lipase. Olezarsen được biết đến như một oligonucleotide antisense nhắm vào và trung hòa mRNA của APOC3 để tăng cường chuyển hóa triglyceride. Ionis Pharmaceuticals đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của olezarsen trong việc kiểm soát tình trạng tăng triglyceride máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 10 năm 2025
|
|
Đối với các trường hợp trẻ em nhập viện do suy dinh dưỡng nặng, liệu pháp bù nước thường được chỉ định.Lý do liệu pháp bù nước bằng đường uống thường được ưu tiên hơn truyền tĩnh mạch vì lo ngại rằng trẻ em suy dinh dưỡng có thể bị suy giảm chức năng tim, vốn có thể bị ảnh hưởng nặng nề hơn do quá tải dịch. Tuy nhiên, khuyến nghị này dựa trên các bằng chứng hạn chế từ các nghiên cứu kéo dài hàng thập kỷ. Nhằm giải quyết khoảng trống kiến thức này, tổ chức Thử nghiệm Sức khỏe Toàn cầu đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của việc bù nước bằng đường tĩnh mạch ở trẻ em suy dinh dưỡng nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 10 năm 2025
|
|
Đối với bệnh nhân bị huyết khối tắc mạch tĩnh mạch nguy cơ thấp do ung thư hoặc huyết khối, có thể sử dụng thuốc chống đông trong vòng 3 tháng. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ thời gian sử dụng thuốc chống đông phù hợp cho huyết khối tắc mạch tĩnh mạch nguy cơ thấp do béo phì, phẫu thuật hoặc nằm bất động. Với sự tài trợ của Bristol-Myers Squibb & Pfizer, một nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liệu trình tối ưu của apixaban nhằm ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch do yếu tố tạm thời gây ra.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 10 năm 2025
|
|
Các glycoside tim như digoxin thường được kê đơn để kiểm soát suy tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy digoxin có hiệu quả hạn chế trong việc kiểm soát suy tim có phân suất tống máu giảm. Do những tiến bộ gần đây trong các liệu pháp điều trị các bệnh tim mạch khác, chính phủ Đức đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá việc sử dụng digitoxin để kiểm soát suy tim có phân suất tống máu giảm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 13 tháng 10 năm 2025
|
|
Hiện nay, phác đồ điều trị của căn bệnh đột quỵ thiếu máu cục bộ được khuyến cáo sử dụng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch trong vòng 4,5 giờ sau khi khởi phát. Tuy nhiên, ngay khi được điều trị kịp thời, hơn một nửa số bệnh nhân vẫn không thể phục hồi hoàn toàn chức năng. Với mục tiêu tăng độ hiệu quả trong điều trị, chính phủ Trung Quốc đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá liệu tirofiban có thể cải thiện kết quả phục hồi khi được bổ sung vào liệu pháp tiêu sợi huyết tiêu chuẩn hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 10 tháng 10 năm 2025
|
|
Để kiểm soát bệnh tiểu đường tuýp 2, thuốc Semaglutide dạng tiêm dưới da có thể được sử dụng. Bây giờ semaglutide đã có ở dạng uống. Ngoài việc kiểm soát đường huyết, semaglutide đã được chứng minh giúp thúc đẩy việc giảm cân đáng kể. Một nghiên cứu gần đây do công ty dược Novo Nordisk tài trợ đã đánh giá hiệu quả của liều semaglutide uống lượng thấp trong việc kiểm soát béo phì.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 8 tháng 10 năm 2025
|
|
Kích hoạt thụ thể GLP-1 là một phương pháp đã được chứng minh hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường tuýp 2. Các thuốc như semaglutide và tirzepatide cũng cho thấy lợi ích trong việc giảm cân và sức khỏe tim mạch. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc trở nên phức tạp do cần phải tiêm. Orfoglipron, một chất chủ vận thụ thể GLP-1 dạng uống phân tử nhỏ, cung cấp một giải pháp thay thế đơn giản hơn. Với sự tài trợ của công ty Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của orfoglipron trong việc điều trị bệnh tiểu đường tuýp 2.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 10 năm 2025
|
|
Aspirin là một thuốc giảm đau và chống viêm được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng giảm viêm bằng cách ức chế cyclooxygenase-2 (COX-2). Các khối u ung thư đại trực tràng thường biểu hiện lượng COX-2 cao. Vì thế, COX-2 có thể kích hoạt tính hiệu phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K) và thúc đẩy quá trình hình thành khối u. Với sự tài trợ của Hội Đồng Nghiên Cứu Thụy Điển, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu aspirin có thể cải thiện kết quả điều trị ở những bệnh nhân ung thư đại trực tràng mang đột biến PI3K hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 10 năm 2025
|
|
Rối loạn trầm cảm (MDD) là một tình trạng rất phổ biến, và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nhưng liệu pháp chống trầm cảm tiêu chuẩn chỉ đạt được sự thuyên giảm ở khoảng một nửa số bệnh nhân. Những nỗ lực nhằm tăng cường hiệu quả của thuốc chống loạn thần bổ trợ đã bị hạn chế do khả năng dung nạp kém và tỷ lệ ngừng điều trị cao. Để giải quyết vấn đề này, công ty dược Johnson & Johnson đã tài trợ một nghiên cứu đánh giá sử dụng lumateperone, một loại thuốc chống loạn thần mới, để bổ trợ cho thuốc chống trầm cảm truyền thống trong việc điều trị rối loạn trầm cảm.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 10 năm 2025
|
|
Lubiprostone là một chất hoạt hóa kênh clorua thường được sử dụng để điều trị táo bón. Các nghiên cứu quan sát quy mô lớn trước đây tìm thấy sự liên quan giữa việc sử dụng lubiprostone và việc giảm nguy cơ biến chứng thận ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính. Để tìm hiểu thêm về tác dụng bảo vệ thận này, Cơ Quan Nghiên Cứu & Phát Triển Y Khoa Nhật Bản đã tài trợ cho một nghiên cứu kiểm tra lubiprostone ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 9 năm 2025
|
|
Các nghiên cứu trước đây cho thấy mối liên hệ giữa việc sử dụng chất thuốc chế interleukin-17 (IL-17) trong bệnh vẩy nến và nguy cơ gia tăng các biến cố tim mạch nghiêm trọng. Phản ứng này có thể do vai trò của IL-17 trong quá trình sản xuất collagen. Bằng cách làm giảm nồng độ IL-17, các liệu pháp nhắm vào tế bào T-helper 17 có thể làm mất ổn định các mảng xơ vữa động mạch. Điều này làm tăng nguy cơ tắc nghẽn mạch máu. Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, Hiệp Hội Da Liễu Pháp đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn của thuốc ức chế IL-17 trên tim mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 9 năm 2025
|
|
Đối với căn bệnh Crohn, phương pháp cắt bỏ mang lại tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên, sau phẫu thuật vẫn có nhiều bệnh nhân bị tái phát bệnh trong năm đầu tiên. Hiện nay, vẫn chưa có liệu pháp điều trị nội khoa nào được chấp thuận để ngăn ngừa tái phát sau phẫu thuật. Một nghiên cứu do Takeda tài trợ nhằm tìm hiểu tiềm năng trong việc sử dụng Vedolizumab trong điều trị bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 24 tháng 9 năm 2025
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới và nhập viện ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Các khuyến nghị hiện tại khuyến cáo nên tiêm vắc-xin cho trẻ em sinh ra trong hoặc sắp bước vào mùa RSV đầu tiên. Tuy nhiên, việc tiêm vắc-xin không phải lúc nào cũng khả thi, điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các liệu pháp kháng vi-rút hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Shanghai Ark Biopharmaceutical tài trợ đã điều tra việc sử dụng ziresovir trong điều trị nhiễm RSV ở trẻ nhỏ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 22 tháng 9 năm 2025
|
|
Mặc dù giang mai là một bệnh nhiễm trùng có thể kiểm soát được, nhưng tỷ lệ mắc bệnh đã gia tăng trong những năm gần đây. Các phác đồ điều trị ở các nước phương Tây khuyến nghị sử dụng penicillin tác dụng kéo dài, ở dạng benzathine penicillin G. Nhưng vẫn chưa có sự đồng thuận về liều dùng tối ưu. Trước tình trạng thiếu hụt loại thuốc này gần đây, Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của một liều benzathine penicillin G so với ba liều.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 19 tháng 9 năm 2025
|
|
Ung thư biểu mô tế bào vảy da là một trong những dạng ung thư da phổ biến nhất và có thể dễ dàng được kiểm soát bằng phẫu thuật cắt bỏ. Trong trường hợp bệnh tái phát, xạ trị có thể được sử dụng, nhưng thất bại điều trị vẫn có thể xảy ra ở một số bệnh nhân. Vì thế, công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ một nghiên cứu với mục tiêu tìm hiểu việc sử dụng cemiplimab trong điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy da ở những bệnh nhân có khả năng tái phát cao.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 17 tháng 9 năm 2025
|
|
Đối với bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể hormone, liệu pháp nội tiết thường được sử dụng trong vòng 5 đến 10 năm. Mặc dù hiệu quả, liệu pháp kéo dài này thường gây ra các tác dụng phụ nhất là bốc hỏa. Triệu chứng phụ này thường nghiêm trọng hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi chưa mãn kinh. Với sự tài trợ của Bayer, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của elinzanetant trong việc giảm bốc hỏa trong quá trình điều trị ung thư vú.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 15 tháng 9 năm 2025
|
|
Nirsevimab là một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein F mà virus hợp bào hô hấp (RSV) sử dụng để xâm nhập vào tế bào vật chủ. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh hiệu quả của thuốc trong việc ngăn ngừa nhập viện ở trẻ em, nhưng với thời gian bán hủy là 71 ngày, vẫn chưa rõ liệu hiệu quả bảo vệ có kéo dài trong suốt mùa RSV điển hình kéo dài bốn tháng hay không. Để giải quyết vấn đề này, Sanofi và AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả bảo vệ lâu dài của nirsevimab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 9 năm 2025
|
|
Clozapine là một loại thuốc chống loạn thần thường được sử dụng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Loại thuốc này vô tình có tác dụng điều hòa miễn dịch. Nghiên cứu in vitro cho thấy clozapine có thể làm giảm số lượng bạch cầu trung tính, thúc đẩy sản xuất interleukin-6 và ức chế hoạt động của tế bào B. Việc sử dụng thuốc chống loạn thần này cũng liên quan đến tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Lancet với mục đích nhằm đánh giá nguy cơ nhiễm trùng liên quan đến việc sử dụng clozapine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 9 năm 2025
|
|
Trẻ sinh non thường có nguy cơ mắc các biến chứng phát triển thần kinh cao hơn đáng kể. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc kích thích sản xuất hồng cầu bằng erythropoietin có tác dụng bảo vệ thần kinh. Nhằm tìm hiểu sâu hơn về tiềm năng này, một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã đánh giá liệu darbepoetin có thể cải thiện kết quả phát triển thần kinh ở trẻ sinh non hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 9 năm 2025
|
|
Ngoài việc thay đổi chế độ ăn uống và gia tăng vận động, bệnh béo phì cũng có thể được kiểm soát bằng các sự lựa chọn dược lý. Semaglutide, ban đầu được sử dụng cho bệnh tiểu đường, đang được triển khai trong việc kiểm soát cân nặng. Với kết quả đầy hứa hẹn của loại thuốc này, một nghiên cứu do Novo Nordisk tài trợ đã được thực hiện để tìm hiểu việc sử dụng semaglutide kết hợp với cagrilintide để kiểm soát béo phì.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 9 năm 2025
|
|
Pregabalin và gabapentin thường được sử dụng để kiểm soát cơn đau mãn tính. Các thuốc nhóm gabapentinoid này được ưa chuộng hơn opioid do thuốc không cơ nguy cơ gây nghiện. Tuy nhiên, những loại thuốc này có liên quan đến nguy cơ tác dụng phụ về tim mạch, nhưng vẫn chưa có sự chứng minh rõ ràng. Với sự tài trợ của Viện Quốc gia về Viêm khớp, Cơ xương và Da liễu Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá nguy cơ tim mạch của việc sử dụng pregabalin và gabapentin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 9 năm 2025
|
|
Chất ức chế aromatase và chất ức chế CDK 4/6 thường được sử dụng làm phương pháp điều trị bậc nhất cho các khối u ung thư vú biểu hiện thụ thể hormone. Tuy nhiên, đột biến ở thụ thể estrogen có thể giảm sự hiệu quả của thuốc đối kháng ức chế aromatase. Để quản lý cơ chế kháng thuốc này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu thử nghiệm thuốc camizestrant - một chất phân hủy thụ thể estrogen chọn lọc - để điều trị ung thư vú.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 1 tháng 9 năm 2025
|
|
Thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose-2 (SGLT2) và thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid không steroid thường được sử dụng cho bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính và đái tháo đường týp 2. Hiệu quả của liệu pháp đơn trị này đã được chứng minh trước đây, nhưng tác dụng của việc kết hợp vẫn còn ít được biết đến. Với sự tài trợ của Bayer, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng song song hai loại thuốc này nhằm ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh thận.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 8 năm 2025
|
|
Việc sử dụng cần sa ngày càng phổ biến. Vì thế các chuyên gia y tế nên hiểu rõ rủi ro và lợi ích của cần sa. Trước đây, đã có những nghiên cứu cho thấy việc sử dụng cần sa liên quan đến việc giảm lo âu, đau mãn tính, v.v. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu phát hiện ra rằng cần sa làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác. Để giải đáp nghi vấn này, Viện Tim, Phổi và Máu Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa cần sa và sức khỏe tim mạch.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 8 năm 2025
|
|
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất cho trẻ nhỏ; tuy nhiên, các bé sinh non thường gặp khó khăn khi bú sữa từ mẹ. Ngoài ra, những bà mẹ sinh non có thể gặp vấn đề về sản xuất sữa. Do đó, cần phải sử dụng các phương pháp thay thế cho đến khi có thể cho con bú. Với sự tài trợ của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh việc sử dụng sữa công thức và sữa hiến tặng ở trẻ sinh non.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 8 năm 2025
|
|
Phần lớn các khối u ung thư vú đều biểu hiện thụ thể estrogen trên bề mặt và không có thụ thể cho yếu tố tăng trưởng biểu bì người (HER2). Để điều trị dạng ung thư này, chữa trị nội tiết được kết hợp với thuốc ức chế CDK4/6. Nhưng tình trạng kháng thuốc tạo ra thách thức lớn cho việc kiểm soát tiến triển của bệnh. Với sự tài trợ từ Pfizer, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng vepdegestran trong điều trị ung thư vú tiến triển.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 22 tháng 8 năm 2025
|
|
Đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC). Do đó, việc ức chế đường truyền tín hiệu EGFR trở thành một mục tiêu điều trị lý tưởng. Thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc kiểm soát NSCLC, nhưng tình trạng kháng thuốc đã được chứng minh là một trở ngại. Với sự tài trợ từ công ty dược Jiangsu Aosaikang, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng limertinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 8 năm 2025
|
|
Nguyên nhân gây bệnh COVID kéo dài vẫn chưa được hiểu rõ. Giả thuyết cho rằng các yếu tố như rối loạn miễn dịch, loạn khuẩn hệ vi sinh vật và các yếu tố khác có thể đóng vai trò trong việc sinh bệnh. Sự tồn tại dai dẳng của virus cũng có thể liên quan đến COVID kéo dài. Với sự tài trợ từ Pfizer, một nghiên cứu đã được tiến hành để xem liệu liệu pháp kháng virus có thể làm giảm COVID kéo dài hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 18 tháng 8 năm 2025
|
|
Sốt rét là một bệnh lây truyền qua muỗi phổ biến. Bệnh có thể được kiểm soát hiệu quả bằng thuốc diệt côn trùng và sử dụng màn ngủ. Tuy nhiên, khả năng kháng thuốc diệt côn trùng và sự thích nghi hành vi của vật trung gian truyền bệnh có thể tạo ra những thách thức đáng kể đối với các biện pháp can thiệp y tế công cộng hiện nay. Với sự tài trợ của tổ chức quốc tế UNITAID, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng ivermectin để ngăn ngừa lây truyền sốt rét.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 8 năm 2025
|
|
Ung thư phổi tế bào nhỏ là một trong những loại ung thư nghiêm trọng nhất, với chỉ 5% bệnh nhân sống sót sau 5 năm. Hóa trị liệu dựa trên bạch kim và thuốc ức chế PD-L1 là liệu pháp điều trị đầu tiên đối với căn bệnh này; tuy nhiên, những liệu pháp này không làm tăng đáng kể khả năng sống sót. Các liệu pháp điều trị thứ hai hiện có cũng không mang lại hiệu quả đối với các tác dụng phụ về huyết học không thể dung nạp. Với sự tài trợ từ Amgen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng tarlatamab để điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 8 năm 2025
|
|
Ung thư dạ dày là một trong những loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam và có thể giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đáng kể. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng từ 5% đến 17% khối u ung thư dạ dày biểu hiện thụ thể cho yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2). Công ty dược phẩm Daiichi Sankyo và AstraZeneca đã đồng tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tận dụng mục tiêu điều trị này - sử dụng trastuzumab deruxtecan để điều trị ung thư dạ dày.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 11 tháng 8 năm 2025
|
|
Đối với bệnh nhân đái tháo đường týp 2, insulin được sử dụng nếu các thuốc hạ đường huyết thông thường không thể kiểm soát bệnh hiệu quả. Việc tiêm insulin hàng ngày có những thách thức đáng kể cho bệnh nhân và có thể làm giảm sự tuân thủ điều trị. Eli Lilly đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá tính khả thi của việc tiêm insulin mỗi tuần một lần để kiểm soát đường huyết.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 8 tháng 8 năm 2025
|
|
Ondansetron là thuốc đối kháng thụ thể 5-hydroxytryptamine type 3 (5-HT3) thường được sử dụng để ức chế buồn nôn ở trẻ em nhập viện do viêm dạ dày ruột cấp tính. Giá trị của việc sử dụng ondansetron sau khi xuất viện vẫn chưa rõ ràng. Do đó, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của ondansetron sau khi xuất viện.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 8 năm 2025
|
|
Prednisone là liệu pháp điều trị kháng viêm đầu tay cho bệnh sarcoidosis phổi. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này được khuyến nghị dựa trên các nghiên cứu cũ và chất lượng thấp. Ngoài ra, việc sử dụng prednisone kéo dài gia tăng nguy cơ các tác dụng phụ. Gần đây, một nghiên cứu do Quỹ Phổi Hà Lan tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc thay thế prednisone bằng methotrexate trong điều trị bệnh sarcoidosis phổi.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 8 năm 2025
|
|
Ung thư biểu mô tuyến dạ dày và thực quản là một trong những loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Phẫu thuật cắt bỏ kết hợp hóa trị là phương pháp lý tưởng để điều trị khối u; tuy nhiên, tỷ lệ tái phát vẫn còn cao. Các phương pháp điều trị nhắm vào cơ cấu ức chế miễn dịch của khối u đã được chứng minh có khả năng kiểm soát bệnh. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được tiến hành để phân tích việc bổ sung durvalumab vào hóa trị liệu tiêu chuẩn để kiểm soát ung thư dạ dày và thực quản.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 8 năm 2025
|
|
Ung thư ngực dương tính với thụ thể hormone có cơ chế sinh bệnh phức tạp với nhiều quá trình hình sinh học thành khối u. Ba phương pháp hình thành khối ưu quan trọng bao gồm thụ thể estrogen, CDK4/6 và phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K). Trong số đó, đột biến của PI3K dưới dạng PIK3CA được tìm thấy ở 40% bệnh nhân và có liên quan đến tiên lượng xấu. Với sự tài trợ từ Roche, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc bổ sung inavolisib vào liệu pháp điều trị ung thư vú hiện tại.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 7 năm 2025
|
|
Tiêu huyết khối tĩnh mạch trước khi phẫu thuật huyết khối nội mạch giúp tăng cường lưu thông máu não. Nhưng điều trị gia tăng nguy cơ xuất huyết. Các nghiên cứu trước đây không đưa ra kết quả nhất quán, và hầu hết các nghiên cứu đều được thực hiện với alteplase. Với sự tài trợ của chính phủ Trung Quốc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng tenecteplase trước khi lấy huyết khối cho bệnh nhân đột quỵ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 7 năm 2025
|
|
Thuốc chủ vận β2 tác dụng ngắn, như albuterol, thường được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị hen suyễn cấp tính. Tuy nhiên, vì thuốc không có khả năng điều hòa miễn dịch, hiệu quả của albuterol bị hạn chế. Do đó, việc kết hợp albuterol và một glucocorticoid dạng hít như budesonide có thể tăng cao hiệu quả lâm sàng. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được thực hiện để phân tích việc kết hợp giữa albuterol và budesonide nhằm ngăn ngừa cơn hen suyễn cấp ở mức độ nhẹ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 7 năm 2025
|
|
Những tiến bộ hạn chế trong nỗ lực cải thiện điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ (HNSCC) tiến triển tại chỗ có thể cắt bỏ. Liệu pháp xạ trị và cisplatin tiêu chuẩn hiện nay không hiệu quả và không ngăn ngừa được bệnh tái phát ở một lượng lớn bệnh nhân. Pembrolizumab đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị HNSCC di căn và tái phát; do đó, Merck đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng điều chỉnh pembrolizumab cho giai đoạn bệnh sớm hơn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 7 năm 2025
|
|
Nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) trong huyết thanh cao có liên quan đến nguy cơ mắc các biến cố tim mạch cao hơn. Điều trị bằng statin có thể không mang lại mức độ cải thiện lâm sàng cần thiết và việc tăng liều có thể bị hạn chế bởi các tác dụng phụ. Với sự tài trợ từ New Amsterdam Pharma, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng obicetrapib để kiểm soát nồng độ cholesterol trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 7 năm 2025
|
|
Semaglutide và tirzepatide là những phương pháp điều trị mới cho bệnh tiểu đường nhưng do lợi ích lâm sàng, chúng đã trở thành lựa chọn phổ biến ở nhiều nước phương Tây. Cả hai loại thuốc này đều có liên quan đến việc cải thiện đáng kể quá trình chuyển hóa, chẳng hạn như giảm cân. Một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ vừa được công bố trên Tạp chí Y học New England đã so sánh hiệu quả kiểm soát cân nặng giữa semaglutide và tirzepatide.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 18 tháng 7 năm 2025
|
|
Bạch biến là một rối loạn mất sắc tố da do tế bào hắc tố bị phá hủy bởi các tế bào miễn dịch. Bệnh thường được điều trị bằng liệu pháp quang trị liệu UV-B. Tuy nhiên, vì quá trình này được trung gian bởi cả interferon alpha do tế bào dendrit sản xuất và interleukin-13 từ đáp ứng của tế bào T loại 2. Các loại thuốc can thiệp như ruxolitinib và baricitinib, có thể được sử dụng để kiểm soát tình trạng bệnh. Với sự tài trợ từ Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả kết hợp của baricitinib và liệu pháp quang trị liệu UV-B trong điều trị bạch biến.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 7 năm 2025
|
|
Montelukast được sử dụng rộng rãi nhằm kiểm soát hen suyễn và viêm mũi dị ứng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Tuy nhiên, dữ liệu giám sát gần đây đã tìm thấy mối liên quan giữa việc sử dụng montelukast và tần suất các tác dụng phụ thần kinh tâm thần. Cơ chế đằng sau tác dụng này vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng đã có giả thuyết cho rằng thuốc có thể can thiệp vào trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận. Với sự tài trợ của Hiệp hội Hen suyễn và Dị ứng Thụy Điển, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng phụ thần kinh tâm thần tiềm ẩn của montelukast.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 7 năm 2025
|
|
Chikungunya là một bệnh nhiễm trùng do virus CHKV gây ra, có liên quan đến đau khớp và đau cơ. Virus này lây truyền qua muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus, thường gặp ở châu Á. Với sự tài trợ của công ty dược phẩm Valneva Áo và Liên minh Châu Âu, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của vắc-xin phòng ngừa nhiễm trùng chikungunya.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 7 năm 2025
|
|
Do tỷ lệ béo phì gia tăng ở Việt Nam, các bác sĩ cần chuẩn bị cho sự gia tăng song song các ca viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH). Bên cạnh các biện pháp can thiệp về chế độ ăn uống và thay đổi lối sống, có một số liệu pháp khả thi dưới dạng thuốc chủ vận GLP-1 và resmetiron; tuy nhiên, nhu cầu về các phương pháp điều trị khác để điều trị cho những bệnh nhân không thể điều trị bằng các lựa chọn còn lại ngày càng tăng. Với sự tài trợ từ Akero Therapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng efruxifermin để kiểm soát MASH.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 7 năm 2025
|
|
Với sự gia tăng tần suất các rối loạn tim mạch ở các quốc gia đang phát triển và mới phát triển, tỷ lệ đột quỵ cũng tăng theo. Chế độ ăn nhiều natri là một yếu tố nguy cơ gây ra các bệnh lý này, do nó góp phần gây tích tụ dịch làm tăng huyết áp. Một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tài trợ của chính phủ Trung Quốc nhằm tìm hiểu tiềm năng của việc sử dụng muối thay thế trong việc ngăn ngừa đột quỵ tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 7 năm 2025
|
|
Nhược cơ là một bệnh tự miễn, trong đó tế bào B sản xuất kháng thể nhắm vào thụ thể acetylcholine tại điểm nối thần kinh cơ. Bệnh có thể được kiểm soát bằng glucocorticoid kháng viêm và chất ức chế cholinesterase để tăng thời gian truyền tín hiệu tại điểm nối thần kinh cơ. Việc nhắm vào các tế bào B sản xuất tự kháng thể là một lựa chọn khác với rituximab nhắm vào dấu hiệu CD20 trên tế bào B. Inebilizumab là một lựa chọn khả thi khác nhắm vào một dấu hiệu khác trên tế bào B. Amgen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của thuốc này trong việc kiểm soát nhược cơ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 7 năm 2025
|
|
Nhiều quốc gia đang phát triển và mới phát triển bao gồm cả Việt Nam, đang chứng kiến tình trạng béo phì gia tăng. Các chất chủ vận thụ thể glucagon - ban đầu được thiết kế để kiểm soát bệnh tiểu đường tuýp 2, tuy nhiên, chúng đã cho thấy thêm tiềm năng hỗ trợ giảm cân. Một trong những tác nhân tương tự đó là mazdutide - đã được đánh giá về hiệu quả kiểm soát cân nặng trong một nghiên cứu do Innovent Biologics tài trợ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 7 năm 2025
|
|
Các kết quả sinh nở bất lợi chẳng hạn như sinh non và trẻ nhẹ cân, tiếp tục là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở nhiều nơi có nguồn lực hạn chế. Viêm nhiễm và nhiễm trùng ở mẹ—bao gồm vi khuẩn niệu và giang mai—có liên quan đến nguy cơ cao hơn của các kết quả này. Dựa trên mối liên hệ này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu do Wellcome Trust tài trợ để đánh giá liệu việc sử dụng trimethoprim–sulfamethoxazole dự phòng có thể làm giảm các rủi ro này trong thai kỳ hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 6 năm 2025
|
|
Hiện tại, không có phương pháp điều trị nào được chấp thuận cho tình trạng viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa. Với tình trạng này có liên quan chặt chẽ đến béo phì và tiểu đường, một nghiên cứu đã được Novo Nordisk tài trợ để kiểm tra việc sử dụng semaglutide trong việc kiểm soát sức khỏe gan ở những bệnh nhân bị xơ gan và viêm gan nhiễm mỡ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 6 năm 2025
|
|
Những người mắc bệnh tiểu đường loại 2 có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn. Nghiên cứu trước đây kiểm tra khả năng kiểm soát đường huyết của semaglutide - một chất chủ vận thụ thể GLP-1, được phát hiện ra rằng nó cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Để khám phá mối quan hệ này một cách cụ thể, Novo Nordisk đã tài trợ cho một nghiên cứu để kiểm tra tác dụng của semaglutide đối với sức khỏe tim mạch ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 6 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng viêm gan B mãn tính là một yếu tố nguy cơ đã được xác định rõ ràng đối với bệnh xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Mặc dù thuốc kháng vi-rút có hiệu quả trong việc kiểm soát bệnh, nhưng các hướng dẫn điều trị hiện tại thường khuyến cáo nên trì hoãn việc bắt đầu cho đến khi phát hiện ra các men gan tăng cao. Tuy nhiên, dữ liệu quan sát gần đây cho thấy chỉ riêng tình trạng nhiễm vi-rút trong máu có thể góp phần làm tăng nguy cơ ung thư, bất kể mức độ men gan. Để ứng phó với vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc đã hợp tác với Gilead tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá lợi ích của việc can thiệp kháng vi-rút sớm ở những bệnh nhân có mức men gan bình thường.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 6 năm 2025
|
|
Pseudomonas aeruginosa là một tác nhân gây bệnh vi khuẩn phổ biến và các bệnh nhiễm trùng do các chủng đa kháng thuốc gây ra mối đe dọa đáng kể về mặt lâm sàng. Mặc dù các phối hợp kháng sinh ceftolozane–tazobactam và ceftazidime–avibactam đã cho thấy hiệu quả chống lại các chủng kháng thuốc, nhưng vẫn còn hạn chế về dữ liệu so sánh hiệu quả của chúng trong các tình huống lâm sàng khác nhau. Để giải quyết khoảng cách này và hỗ trợ việc tinh chỉnh các hướng dẫn điều trị, một nghiên cứu do Merck tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả tương đối của chúng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 6 năm 2025
|
|
Tăng huyết áp động mạch phổi (PAH), nếu không được điều trị hoặc kiểm soát kém, có thể tiến triển thành suy thất phải và cuối cùng dẫn đến tử vong. Mặc dù các liệu pháp hiện tại có thể làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, nhưng chúng chưa chứng minh được khả năng ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như nhập viện, ghép phổi hoặc tử vong. Để giải quyết nhu cầu chưa được đáp ứng này, một nghiên cứu do Merck tài trợ đã điều tra việc sử dụng sotatercept như một liệu pháp tiềm năng có thể thay đổi bệnh cho PAH.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 18 tháng 6 năm 2025
|
|
Các phương pháp điều trị viêm gan C có hiệu quả ở người lớn—chẳng hạn như pegylated interferon và ribavirin—có liên quan đến các biến chứng về phát triển ở trẻ em. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng thuốc kháng vi-rút, nhưng tính an toàn lâu dài của các liệu pháp này ở trẻ em vẫn chưa chắc chắn. Để giải quyết khoảng cách này, một nghiên cứu do Gilead Sciences tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả lâu dài của sofosbuvir ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 6 năm 2025
|
|
Virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở trẻ sơ sinh. Nirsevimab - một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein RSV F để ngăn chặn sự hợp nhất của virus, những nghiên cứu trước đây đã cho thấy hiệu quả trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng. Một nghiên cứu gần đây do AstraZeneca và Sanofi tài trợ hiện đã báo cáo về tác dụng bảo vệ lâu dài của nirsevimab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 13 tháng 6 năm 2025
|
|
Thuốc can thiệp vào tín hiệu acetylcholine có khả năng dẫn đến suy giảm nhận thức. Các tác nhân kháng muscarinic tác dụng kéo dài như tiotropium, thường được kê đơn cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), có thể ảnh hưởng lên đường truyền tín hiệu acetylcholine. Nhưng tác động của tiotropium lên chức năng thần kinh vẫn chưa được hiểu rõ. Các nghiên cứu trước đây về chủ đề này bị hạn chế do thiết kế kém. Gần đây, một nghiên cứu do Hiệp Hội Não Canada tài trợ đã xem xét liệu việc sử dụng tiotropium có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 6 năm 2025
|
|
Việc mất các tế bào thần kinh sản xuất orexin ở vùng dưới đồi là nguyên nhân chính gây ra chứng ngủ rũ, đặc biệt là loại 1. Trong khi các phương pháp điều trị hiện có tập trung vào việc làm giảm các triệu chứng—chẳng hạn như thúc đẩy sự tỉnh táo vào ban ngày và giảm chứng mất trương lực cơ—thì chúng không nhắm vào tình trạng thiếu hụt orexin tiềm ẩn. Những nỗ lực trước đây nhằm phát triển các chất chủ vận thụ thể orexin đã bị cản trở do nhu cầu truyền tĩnh mạch và lo ngại về độc tính đối với gan. Với sự tài trợ từ Takeda, một nghiên cứu mới đã khám phá việc sử dụng oveporexton, một chất chủ vận orexin thấm qua hàng rào máu não, dùng đường uống nhằm điều trị chứng ngủ rũ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 6 năm 2025
|
|
Các liệu pháp hiện tại cho bệnh đa xơ cứng (MS) chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát tình trạng viêm dẫn đến tổn thương chất trắng. Trong số hơn 20 phương pháp điều trị đã được chấp thuận, kháng thể đơn dòng kháng CD20 đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm sự hình thành tổn thương và ngăn ngừa tái phát. Tuy nhiên, các liệu pháp này chỉ cho thấy thành công hạn chế trong việc ngăn chặn sự tiến triển của tình trạng khuyết tật. Với mục đích khám phá các phương pháp tiếp cận thay thế, Sanofi đã tài trợ cho một loạt các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của tolebrutinib trong việc ngăn ngừa tái phát ở những bệnh nhân mắc MS.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 6 năm 2025
|
|
Bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em thường biểu hiện các triệu chứng nghiêm trọng hơn và tiên lượng kém hơn so với người lớn. Mặc dù có các phương pháp điều trị chống loạn thần hiệu quả dành cho trẻ em và thanh thiếu niên, nhưng các tác nhân này có xu hướng mang lại rủi ro cao hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi. Các nghiên cứu gần đây cho thấy ngoài dopamine, các chất dẫn truyền thần kinh monoamine khác—như norepinephrine và serotonin—cũng góp phần vào bệnh sinh lý của bệnh tâm thần phân liệt. Với sự tài trợ từ Otsuka Pharmaceutical, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng brexpiprazole trong việc kiểm soát bệnh tâm thần phân liệt ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 6 năm 2025
|
|
Mặc dù sử dụng nhiều phác đồ thuốc,nhưng nhiều bệnh nhân bị tăng huyết áp vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp. Nghiên cứu mới cho thấy rối loạn aldosterone có thể là động lực chính gây ra tình trạng tăng huyết áp kháng trị. Với nguồn tài trợ từ Mineralys Therapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá lorundrostat - một chất ức chế aldosterone synthase nhằm kiểm soát huyết áp ở nhóm dân số này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 6 năm 2025
|
|
Bệnh lao vẫn đang là gánh nặng lớn đối với sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam và trên toàn thế giới, gây ra hơn 1 triệu ca tử vong mỗi năm. Mặc dù vắc-xin BCG đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ để ngăn ngừa nhiễm trùng, nhưng tác dụng bảo vệ của nó giảm dần theo thời gian. Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến việc tìm hiểu liệu việc tiêm lại vắc-xin BCG có thể phục hồi khả năng miễn dịch hay không. Với sự hỗ trợ của Quỹ Bill & Melinda Gates, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của việc tiêm lại vắc-xin BCG đối với công tác phòng ngừa bệnh lao.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 5 năm 2025
|
|
Chiến lược chống đông máu tối ưu cho bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch não vẫn là chủ đề tranh luận hiện nay. Trong khi thuốc chống đông bằng đường uống trực tiếp tiện lợi hơn cho bệnh nhân và có tỷ lệ xuất huyết nội sọ thấp hơn, nhưng thuốc đối kháng vitamin K vẫn tiết kiệm chi phí hơn. Ngoài ra, thuốc đối kháng vitamin K có liên quan đến nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa thấp hơn và được ưa chuộng ở những bệnh nhân có van tim cơ học. Do thiếu sự đồng thuận giữa hai loại thuốc, một nghiên cứu quan sát đa quốc gia đã được thực hiện với sự hỗ trợ của Quỹ Huyết khối Hà Lan.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 5 năm 2025
|
|
Viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan đóng vai trò quan trọng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) với interleukin-5 (IL-5) thúc đẩy quá trình trưởng thành và hoạt hóa ái toan. Nhằm đánh giá các phương pháp điều trị, GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của mepolizumab—một kháng thể đơn dòng kháng IL-5—trong việc kiểm soát COPD.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 5 năm 2025
|
|
Lipoprotein(a) [Lp(a)] là thành phần chính trong quá trình hình thành các hạt LDL vận chuyển cholesterol. Nồng độ Lp(a) trong huyết thanh tăng cao có liên quan đến nguy cơ tử vong do tim mạch cao hơn. Nhằm giải quyết yếu tố nguy cơ này, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của lepodisiran, một liệu pháp mới nhằm mục đích hạ thấp mức Lp(a).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 5 năm 2025
|
|
Viêm mãn tính của biểu mô đại tràng là nguyên nhân gây ra viêm loét đại tràng, một tình trạng có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng trong thời gian dài. Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị khác nhau, nhưng nhiều phương pháp không ngăn ngừa được bệnh tái phát hoặc gây ra các tác dụng phụ không mong muốn. Để khám phá các lựa chọn điều trị mới, một nghiên cứu do Ventyx Biosciences tài trợ đã đánh giá tiềm năng của tamuzimod trong việc kiểm soát viêm loét đại tràng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 5 năm 2025
|
|
Hút thuốc là một trong những yếu tố nguy cơ phổ biến nhất gây ra hàng triệu ca tử vong có thể phòng ngừa được mỗi năm. Mặc dù hiện nay có một số phương pháp hỗ trợ cai thuốc lá như bupropion và varenicline, nhưng hiệu quả lâu dài còn hạn chế và các tác dụng phụ đáng chú ý của chúng làm nổi bật nhu cầu về các phương pháp thay thế mới. Được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ từ công ty công nghệ sinh học Achieve Life Sciences, một thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của cytisinicline trong việc giảm cơn thèm nicotine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 5 năm 2025
|
|
Mặc dù đối với người lớn khỏe mạnh, bệnh cúm được xem là “ốm vặt”. Tuy nhiên, cúm có thể gây ra mối đe dọa nghiêm trọng, thậm chí tử vong, đối với trẻ em, người già và những người bị suy giảm miễn dịch. Mỗi mùa cúm thường liên quan đến sự lưu hành của bốn chủng cúm riêng biệt, tất cả đều có trong vắc-xin được cập nhật hàng năm. Tuy nhiên, vì công thức vắc-xin dựa trên mô hình dự đoán về chủng nào sẽ chiếm ưu thế nên hiệu quả của vắc-xin thay đổi theo từng năm và có thể không tối ưu. Mặc dù có thuốc kháng vi-rút cho bệnh cúm, nhưng có rất ít bằng chứng kết luận ủng hộ khả năng giảm lây truyền của chúng. Để tìm ra các lựa chọn mới, Roche đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá tiềm năng của baloxavir trong việc giảm khả năng lây truyền cúm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 5 năm 2025
|
|
Bệnh nhân bị giãn phế quản thường có biểu hiện ho mãn tính và sản xuất đờm quá mức. Sự suy giảm dần dần chức năng phổi liên quan đến căn bệnh này chủ yếu là do tình trạng viêm do bạch cầu trung tính và tổn thương màng nhầy. Các hướng dẫn lâm sàng hiện tại thường khuyến nghị sử dụng các tác nhân hoạt hóa chất nhầy để làm giảm các triệu chứng và kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn. Gần đây, một nghiên cứu do Insmed tài trợ và được công bố trên Tạp chí Y học New England đã xem xét việc sử dụng brensocatib - một loại thuốc nhằm mục đích kiểm soát tình trạng giãn phế quản bằng cách ức chế hoạt động của bạch cầu trung tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 5 năm 2025
|
|
Kể từ khi lây lan toàn cầu trong đợt bùng phát năm 2022, bệnh đậu mùa khỉ đã được kiểm soát hiệu quả ở hầu hết các nơi trên thế giới. Tuy nhiên, các trường hợp vẫn tiếp tục gia tăng ở Châu Phi cận Sahara, đặc biệt là ở Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC). Hiện tại, không có phương pháp điều trị kháng vi-rút cụ thể nào được chấp thuận cho bệnh đậu mùa khỉ. Để ứng phó với gánh nặng ngày càng tăng, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ (NIAID) đã hợp tác với Bộ Y tế Congo để nghiên cứu hiệu quả của tecovirimat như một phương pháp điều trị nhiễm trùng đậu mùa khỉ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 5 năm 2025
|
|
Viêm thận lupus là một tình trạng tự miễn dịch nghiêm trọng trong đó hệ thống miễn dịch sản xuất ra các kháng thể nhầm lẫn nhắm vào các tế bào thận, làm suy yếu chức năng lọc của chúng. Mặc dù các liệu pháp mới như belimumab và voclosporin gần đây đã được các cơ quan quản lý tại Hoa Kỳ và Châu Âu chấp thuận, nhưng các phương pháp điều trị này đã cho thấy những hạn chế về kết quả lâm sàng. Do đó, vẫn còn nhu cầu cấp thiết về các lựa chọn điều trị thay thế. Với nguồn tài trợ từ Roche, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của obinutuzumab trong điều trị viêm thận lupus.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 5 năm 2025
|
|
Các hướng dẫn lâm sàng ở cả Hoa Kỳ và Châu Âu đều khuyến cáo sử dụng chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) cho bệnh nhân suy tim, bất kể tình trạng tiểu đường. Tuy nhiên, những cá nhân mắc bệnh van tim nặng cần phải cấy ghép van động mạch chủ qua ống thông phần lớn đã bị loại khỏi các nghiên cứu này. Để giải quyết khoảng trống này, một nghiên cứu do Viện Y tế Carlos III ở Tây Ban Nha tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng chất ức chế SGLT2 ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch chủ nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 5 năm 2025
|
|
Bệnh nhân ung thư có nguy cơ huyết khối tắc mạch tĩnh mạch cao hơn đáng kể so với những người khỏe mạnh. Mặc dù nhiều hướng dẫn hiện tại khuyến nghị tiếp tục dùng thuốc chống đông trong suốt thời gian mắc ung thư, nhưng liệu pháp kéo dài làm tăng nguy cơ biến chứng chảy máu. Để tìm ra liều tối ưu, một nghiên cứu do Bristol-Myers Squibb tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các chế độ dùng thuốc apixaban khác nhau trong việc ngăn ngừa huyết khối tắc mạch ở bệnh nhân ung thư.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 5 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới cực kỳ phổ biến với khoảng một nửa số phụ nữ trên toàn thế giới báo cáo ít nhất một lần trong đời. Mặc dù những bệnh nhiễm trùng này thường có thể kiểm soát được bằng thuốc kháng sinh, nhưng việc sử dụng sai trong quá khứ đã góp phần làm gia tăng vấn đề kháng thuốc kháng sinh, làm nổi bật nhu cầu về các phương pháp điều trị mới đó là Gepotidacin. GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của nó với nitrofurantoin trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 5 năm 2025
|
|
Mặc dù số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu đang giảm, nhưng số ca nhiễm ở nam giới quan hệ tình dục với nam giới và phụ nữ chuyển giới lại đang gia tăng. Dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) là một phương pháp hiệu quả để ngăn ngừa lây truyền HIV, nhưng cần phải tuân thủ chặt chẽ để duy trì hiệu quả. Để khám phá các chiến lược phòng ngừa thay thế, một nghiên cứu do Gilead Sciences tài trợ đã đánh giá việc sử dụng lenacapavir để phòng ngừa HIV.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 4 năm 2025
|
|
Ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen (ER) có thể được kiểm soát bằng thuốc đối kháng ER như fulvestrant. Tuy nhiên, yêu cầu tiêm bắp của fulvestrant làm phức tạp quá trình điều trị, đòi hỏi phải đến phòng khám và hạn chế sự tiện lợi của thuốc. Hơn nữa, hiệu quả của thuốc giảm ở những bệnh nhân có đột biến ESR1 trong thụ thể estrogen. Imlunestrant là thuốc đối kháng ER mới hơn và có dạng uống. Để đánh giá hiệu quả của thuốc, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu kết hợp imlunestrant với abemaciclib trong việc kiểm soát ung thư vú dương tính với ER, âm tính với HER2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 4 năm 2025
|
|
Viêm xoang mạn tính có polyp mũi thường được điều trị bằng glucocorticoid và liệu pháp sinh học nhắm vào các thành phần khác nhau của con đường viêm loại 2. Bởi vì các phương pháp điều trị hiện tại không mang lại hiệu quả, nên nhu cầu về các liệu pháp hoạt động thông qua các cơ chế thay thế trở nên cần thiết. Để giải quyết khoảng cách này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của tezepelumab trong điều trị tình trạng này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 4 năm 2025
|
|
Lipoprotein(a) đóng vai trò quan trọng trong việc đóng gói và vận chuyển cholesterol trong máu thông qua lipoprotein tỷ trọng thấp. Nồng độ lipoprotein(a) tăng cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch bằng cách thúc đẩy sự tích tụ mảng bám. Với nguồn tài trợ từ Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Muvalaplin trong việc kiểm soát nồng độ lipoprotein(a).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 4 năm 2025
|
|
Insulin từ lâu đã là liệu pháp tiêu chuẩn để kiểm soát lượng đường trong máu ở phụ nữ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ. Trong khi các thuốc uống như metformin và glyburide cung cấp một giải pháp thay thế thuận tiện hơn do dễ sử dụng, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đã khuyến cáo không nên sử dụng chúng vì dữ liệu về tính an toàn lâu dài đối với khả năng sinh sản còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ cho một nghiên cứu so sánh hiệu quả của thuốc hạ đường huyết dạng uống với insulin để kiểm soát bệnh tiểu đường thai kỳ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 4 năm 2025
|
|
Viêm âm đạo do vi khuẩn được đánh dấu bằng sự phá vỡ hệ vi khuẩn âm đạo bình thường và các nghiên cứu trước đây cho thấy hệ vi khuẩn dương vật của bạn tình nam có thể dự đoán sự xuất hiện của viêm âm đạo do vi khuẩn ở bạn tình nữ. Được tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu việc điều trị cho bạn tình nam có thể giúp ngăn ngừa tái phát ở phụ nữ hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 18 tháng 4 năm 2025
|
|
Xơ gan mất bù là giai đoạn tổn thương gan tiến triển nhất, biểu hiện bằng tình trạng sẹo rộng và chức năng gan suy giảm đáng kể. Tình trạng này có thể tiến triển thành suy gan cấp tính và tử vong và hiện tại không có liệu pháp nào có thể ngăn ngừa tình trạng này tiến triển. Được tài trợ bởi Liên minh Châu Âu, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng simvastatin và rifaximin trong việc kiểm soát xơ gan.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 4 năm 2025
|
|
Nhiễm trùng huyết có thể được điều trị bằng kháng sinh, nhưng có rất ít sự đồng thuận về thời gian điều trị tối ưu. Phác đồ ngắn hạn 7 ngày có thể không đủ để tiêu diệt vi khuẩn và có thể dẫn đến việc lựa chọn các chủng kháng thuốc. Trong khi phác đồ dài hơn, 14 ngày có thể là quá mức - dẫn đến các tác dụng phụ, nhiễm trùng thứ cấp, tăng áp lực kháng thuốc đối với các tác nhân không gây bệnh và sử dụng tài nguyên không cần thiết. Để trả lời câu hỏi này, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm xác định thời gian điều trị tối ưu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 4 năm 2025
|
|
Mề đay tự phát mạn tính là một tình trạng dị ứng được biểu hiện bằng ngứa và nổi mề đay không thể đoán trước và không có tác nhân gây bệnh nào có thể xác định được. Phản ứng dị ứng này là kết quả của quá trình giải phóng hạt tế bào mast. Trong khi thuốc kháng histamin H1 thế hệ thứ hai là phương pháp điều trị được kê đơn phổ biến nhất, tuy nhiên, có tới 75% bệnh nhân được kê toa ở liều tối đa nhưng vẫn không mang lại hiệu quả cao. Novartis đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của remibrutinib - một chất ức chế BTK trong việc kiểm soát bệnh mề đay.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 4 năm 2025
|
|
Ở những bệnh nhân mắc bệnh đa xơ cứng, nồng độ vitamin D thấp có liên quan đến nguy cơ tái phát tăng cao, gánh nặng bệnh tật lớn hơn và nhiều tổn thương não hơn. Vitamin D điều chỉnh hệ thống miễn dịch bằng cách giảm sự biệt hóa tế bào lympho và hạn chế sự di chuyển của các tế bào miễn dịch qua hàng rào máu não. Dựa trên giả thuyết này, một nghiên cứu do Bộ Y tế Pháp tài trợ đã được tiến hành để đánh giá tiềm năng của vitamin D trong việc kiểm soát bệnh đa xơ cứng và ngăn ngừa tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 4 năm 2025
|
|
Béo phì có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của bệnh tiểu đường loại 2, một tình trạng được đánh dấu bằng rối loạn chức năng tế bào beta đáng kể và kháng insulin. Kiểm soát cân nặng—cho dù thông qua các can thiệp dược lý hay thay đổi lối sống—đã được chứng minh là có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nhiều nghiên cứu đã nêu rõ lợi ích giảm cân của tirzepatide và một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ đã khám phá tiềm năng của nó trong việc điều trị béo phì và ngăn ngừa bệnh tiểu đường.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 4 năm 2025
|
|
Viêm âm đạo do vi khuẩn là tình trạng phổ biến mà nhiều phụ nữ gặp phải. Mặc dù có thể điều trị bằng thuốc kháng sinh, nhưng tình trạng này thường xuyên tái phát và nếu không được kiểm soát hiệu quả, tình trạng này có thể dẫn đến nhiễm trùng thứ phát và các biến chứng sinh sản sau đó, gây ra gánh nặng đáng kể về thể chất và tinh thần. Với sự tài trợ bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng men vi sinh trong âm đạo để ngăn ngừa viêm âm đạo do vi khuẩn tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 4 năm 2025
|
|
Mặc dù vắc-xin COVID-19 mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên, những cá nhân bị suy giảm miễn dịch không thể hưởng lợi từ khả năng bảo vệ của chúng. Để giải quyết vấn đề này, phương pháp trị liệu hiện nay là các kết hợp kháng thể như tixagevimab và cilgavimab - nhắm vào protein gai của vi-rút. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các biến thể kháng thuốc đã tạo ra nhu cầu về các phương pháp điều trị mới. Được tài trợ bởi AstraZeneca, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng sipavibart trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 4 năm 2025
|
|
Thiếu hụt acetylcholine có liên quan đến bệnh Parkinson và có liên quan đến việc tăng biến thiên thời gian sải chân và nguy cơ té ngã cao hơn. Thông thường, acetylcholine được giải phóng vào khe synap để kích hoạt các tế bào thần kinh lân cận và tín hiệu của nó bị chấm dứt bởi acetylcholinesterase - làm thoái hóa chất dẫn truyền thần kinh. Tuy nhiên, thuốc ức chế acetylcholinesterase không làm giảm gánh nặng bệnh tật và thường dẫn đến các tác dụng phụ. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Takeda Pharmaceutical tài trợ đã được tiến hành để đánh giá TAK-071 - một chất chủ vận thụ thể acetylcholine 1 muscarinic mới để kiểm soát bệnh Parkinson.
|